Sign up

Truyền nghề ( tiếp)

nguyentinh | 22 May, 2012 06:11

Nhờ sự nai lưng ra làm lụng, cùng đồng lương giáo viên ít ỏi thời bao cấp mà tôi “cưa sừng làm nghé” cắp sách đến trường học cho hết phổ thông. Bạn chớ tưởng người ta không hỷ hả khi kể ra, rằng tôi tốt nghiệp năm nọ năm kia, có vẻ kẻ cả như kiểu sống lâu lên lão làng, dù chỉ là con chuồn chuồn học qua đại học cho nó gọi là. Tôi là người đầu tiên của dòng họ thi vào đại học. Nếu tôi mà không đi bộ đội, chưa chắc người ta đã cho vào đại học, mặc dù lúc đó ai cũng được vào tuốt, rất thiếu người. Thanh niên lành lặn ra chiến trường cả, đánh trống mà ghi tên thôi. Nhưng lúc mà lý lịch đã chuyển xuống tuyển sinh, lần này không ai đeo kính lên mà dò xét về lý lịch tôi nữa, thì gặp chuyện về bố vợ. Ông Phượt, một người tôi vẫn xem thường, nhưng hóa ra là một trang nam nhi tuyệt hão, “do con mắt tinh đời” của ông mà tôi mới lấy được Mận, một sặc đẹp không tầm thường thời đó. Nhưng ông Phượt nói như đinh đóng cột, rằng con ơi, đừng đại học đại hạch làm chi cho nó uổng phí, thày đã chọn con truyền nghề của tổ tiên để lại. Tôi nghe tưởng là hoang đường, nhưng đó là sự thật một trăm phần trăm. Chuyện này ai mà tin được.

Bố vợ tôi cho gọi sang. Vợ tôi cùng con gái đang ở nhờ một gian “cấp bốn” của trường cấp ba đi sơ tán. Tôi thì đi đi về về, ôn thi vào đại học. Thật tình một số bạn cùng học nay làm giáo viên khuyên, thi tự nhiên có nhiều trường, nhưng lỡ mà ngã ngựa thì sửa làm sao được. Thôi cứ cái anh khối C cho chắc ăn, biết đâu vào được trường nào đó. Bố vợ cho gọi sang. Thày cũng muốn thắp cho con nén hương lên đường cho mát mẻ. Bố vợ tôi nói, người ta coi thường “duy tâm” là tùy họ. Nhưng thày biết bấm độn lý số, biết coi số phận cho người đời, đó là chưa nói,  biết nhìn tướng người ta mà đoán định tương lai dù là bất hảo đi chăng nữa. Tôi phải sang thôi, chả gì chỉ vượt qua cái bờ rào chè mạn này. Ông thắp hương trong cái điện thờ, làm chui, nói là làm chui vì để lộ ra, chính quyền biết thì Mận không được đi học đại học mà Khánh cũng đừng hòng có lý lịch trong sạch vào được cái chân cán bộ chính trị, để lúc nói chuyện đến chữ O làm cái miệng tròn vo đến điệu đàn. Chắc anh cho là thày “phong kiến “phải không? Ông đặt con gà và chai rượu ra cái mâm đồng bóng loáng, chỉ những dịp đại sự mới đưa ra. Hai chân xoa vào nhau theo thói quen của nhà quê “hai xoa một đập” mỗi khi lên giường an tọa. Ngồi đi. Ông Phượt ra lệnh đầy uy quyền cho tôi. Ông thật sự có uy khi làm bố của người con gái đẹp như Mận. Càng uy với tôi hơn khi lúc về quê gặp mẹ vợ, bà Phượt rõ là người đẹp một cách lạ lùng. Chính lây cái đẹp này sang những đứa con, ngoài cái thế dựa vào sự trong sạch của lý lịch, là bộ mặt dễ ưa, gây cho người ta sự cảm tình tự nhiên mà sáu bảy đứa con ông đi đến đâu, cái óc không bằng người mà dễ được trọng dụng. Anh ngồi đi! Ông gọi tôi là anh, mặc dù tôi đáng gọi là thằng trong lúc bĩ cực này. Ta hẵng uống rượu và nhắm thịt gà cái đã, rồi nói chuyện hử? Bàn tay ông như nghệ sĩ múa, cầm lấy chai rượu, rút nút lá chuối ra, rót vào hai cái chén mắt trâu màu da lươn. Con gà luộc ứa ra mỡ vàng, nhưng đụng vào thì những miếng thịt vỡ ra cái đĩa tráng men có hoa văn màu xanh lục. Tôi sắp được nghe ông nói về nó, rằng không phải ai cũng có thể làm chủ cái của quý giá có tới hàng ngàn năm tuổi này. Trong những lần gặp chuyện nghiêm trọng ông mơi lấy nó ra, ví dụ như lần đặt con gà cúng tổ tiên để xin cưới hay dịp này, tôi sắp vào cuộc thi sống mái để xác định nghề nghiệp cho một đời người.Rót rượu ra hai chén, sau khi đã làm lễ trong cái điện nhỏ khói hương mù mịt, cảm giác khó thở đến ngột  ngạt.

- Thày đã đi bắt trộm con gà để làm lễ cho con ra đi được mát mẻ! Lão Phượt nói làm tôi giật mình. Thái độ thẳng thắn hiếm gặp ở người ta khi bộc lộ điều mà xưa này vẫn gọi lũ trộm cắp là “đạo trích”.

- Đời người, ai cũng ít nhiều lấy trộm một cái gì đó…một bao diêm khi cuộc họp mới tan mà cô phục vụ để ở bàn. Một vài củ khoai lúc chia ở đội sản xuất, nằm ở gần  đống khoai phần nhà mình. Một cái bắp cải ở vườn hàng xóm mà ta chót nhổ trộm, hay con gà nhà ai lạc vào xó chày mà ta tóm được rồi làm thịt luộc lên, sợ lắm cả khi mùi thơm loang ra giật mình bởi cái mũi thính của kẻ khác. Lo sợ vì bị cái tai tiếng là một tên ăn trộm…Nhưng thật sung sướng khi thành danh là một kẻ trộm có hạng ở trên đời. Chỉ bằng hai bàn tay thôi, của cải gửi ở những nhà giàu kia cất hộ. Tại sao thày lại nói chuyện này cùng con, vì thấy ở con một khã năng đặc biết mà muốn truyền lại nghề “gia truyền “ này. Thày muốn, Ngài có đệ tử, nhang đèn là con. Con đã ăn cắp được chữ nghĩa, những chữ cái khô khan, nhìn vào đến buồn ngủ thế kia thì con sẽ làm được cái nghề đào ngạch, khoét tường dễ như bỡn. Con có tưởng tượng ra không, khi chui đầu vào trong nhà để ăn trộm, chẳng may bị gia chủ cho cái bừa chặn được cái cổ mình vào hai chiếc răng, sợ thót tim, tè ra cả quần, vì cái chết chỉ trong gang tấc. Đằng nào ta cũng chết, cái lưỡi mai của gã lực điền đang nhắm vào ta. Nó xỉa xuống rất ngọt, vì căm giận ta là kẻ đào ngạch khoét tường thì ít mà bực mình vì vất vã canh chừng thì nhiều. Hẳn là nó cũng đang sợ làm cho sôi máu lên vì đồn thổi, ta có tài xuất quỷ nhập thần. Đằng nào cũng sẽ chết, gia đình ta sẽ được phường hội nuôi sống khi không có ta ở trên đời này. Nhưng thật khổ đau làm sao, vừa lúc nãy ta là kẻ tự do hít thở khí trời. Trong ta lâng lâng niềm tự hào khi thó những thỏi vàng của bọn nhà giàu cho vào cái vuông lụa, nghe cả tiếng sột soạt, ngửi thấy mùi thơm của vàng. Phải có cái mũi của loài chó, mà không của yêu quái mới ngủi thấy mùi tiền con ạ! Đời mỗi con người, thày cam đoan với con là ít ra cũng ăn cắp một lần. Thoát sao được, anh cũng lâng lâng tự hào rằng ta đã thắng những kẻ kia. Trong dòng máu của loài người ít nhiều đã nhiễm cái thói ma mị này của thần Bạch Mi, rồi cả đó sao?

Lúc cái chết cận kề, ta mới liều lấy giọng của Diêm Vương mà nói…Các người kia ơi! Ta đã nhận ra mặt các người rồi đấy. Nếu các người mà cho cái lưỡi mai kia vào cổ ta. Ta sẽ thành con ma cụt đầu, đêm đêm sẽ về ngồi ở đầu gường nhà người đấy. Hãy để cho ta lành lặn, chịu trói và chịu sự hành quyết ở pháp trường. Nhưng hãy cho ta một chút nước uống, ta đã khát khô cổ rồi đây này. Mà nếu được thì hẵng cho ta uống một ngụm rượu xem nào. Ta sẽ mang ơn các người lắm đấy…Cái miệng đã vượt qua nỗi sợ hãi, là có ma lực nỉ non vào tai những kẻ gia nô khốn khổ kia. Họ cũng như ta; nghèo khổ, túng bấn và có lần ăn cắp một cái gì đó của gia chủ. Họ với ta cũng ở dưới đáy của xã hội này.

- Có cho nó uống nước không?

- Thì tiếc gì mà không cho nó một ngụm rượu…Đằng nào nó chã chết kia chứ!

Ta chỉ cần hòa hoãn để lấy sức. Cái cổ ta tuy bị ngoạm vào giữa hai răng bừa, nhưng tay ta đã kịp cho vào cái túi nhỏ, trong đó có ớt bột. Nếu cho vào được miệng thì lúc bọn họ cho ta hớp nước hay hớp rượu, cúi xuống ta sẽ phun vào mắt sẽ bị cay, làm chúng tưởng bị ta phù phép mà thần hồn nát thần tính…Ta sẽ đẩy được cái bừa lên và có cơ thoát thân. Và tài xuất quỷ nhập thần của ta sẽ được đồn thổi lên tận mây xanh.

Tôi hết hồn khi nghe bố vợ nói câu chuyện bí mật này. Xưa nay cũng chỉ nghe loáng thoáng, lai lịch nhà lão Phượt, bất hão, nhưng nghĩ rằng cách mạng đã cải tạo, không thì làm sao mà thằng Khánh đã vào được cái chân cán bộ.

-       Hớ! Hớ! Hớ!...Lão Phượt cười như cái máy đĩa mà Khánh đưa về cho ông nghe cải lương…Anh đang nghĩ là tại sao ta lại muốn truyền nghề lại cho anh mà không phải thằng Khánh chứ chi?

-   Thầy ạ! Con mong thầy hãy truyền lại nghề cho bác Khánh là con trai của nhà mình!

-       Tôi biết, trong bụng anh đã coi thằng Khánh nhà này là cái loại ăn cứt, ăn tục nói leo, vô tích sự…Thời thế chó nó cái chức vụ ấy chứ thực tình nó nhát lắm. Bụng dạ cũng muốn ăn cắp lắm đấy. Nhưng mà sợ…sợ và run thì làm sao mà rinh được của nả của thiên hạ về nhà mình. Hỏng. Nó sẽ hỏng, rồi anh coi. Vì nó không tin vào cái gì ráo.Trong bụng, anh khinh dân ăn trộm ít chữ nghĩa chứ chi?

- Không! Làm sao con lại dám nghĩ như vậy. Nếu không có con mắt tinh đời của thầy, làm sao con đến được cùng nhà con. Tôi thú nhận với bố vợ không chút dấu diếm. Cũng do mấy chén rượu làm cho thần kinh rung động.

- Các anh bây giờ cậy có tấm chữ…Nhưng thầy cho là học chưa hết sách. Ngày xưa học để làm nghề “đạo trích” cũng có “tiên sư”. Một thày một trò, hết sức là nghiêm cẩn. Không thể nhận những học trò phản lại đạo thày. Ngoài cúng ngày rằm mông một, không để truyền nghề cho người ngoài được. Chính ta đã được bố vợ truyền lại nghề cao quý này. Ta nói cùng anh là cao quý, bởi ta cũng sinh ra trong một gia đình “danh gia vọng tộc”. Từng chứng kiến, sự vi thiềng tiền bạc công quỹ, ăn hối lộ của bậc cha thiên hạ. Nhưng vì sắc đẹp mê hồn của mẹ cái Mận mà thày đã đến với “ nghề” này. Vứt bỏ gốc rễ, cao quý của mình để tha phương làm dân ngụ cư khắp nơi này nơi khác. Con có biết sự thử thách của bậc “tiên sư” khắc nghiệt tới mức nào không? Bây giờ phim “cướp giật” chiếu nhan nhãn ra cho các anh xem. Nào là “đặc nhiệm” và đủ thứ nghề ngỗng. Nhưng ta cũng bị các tiền nhân quăng vào giáp mặt với cái chết. Thày không muốn cho con phải nhận việc một cách gượng ép. Con hẵng đi thi. Thậm chí, con hẵng học và cầm cái bằng cho bằng người. Nhưng thử hỏi, con cũng kiếm ăn phải không nào. Liệu lương khi con ra trường, bao giờ đủ nuôi vợ đẹp, con khôn và nhà lầu, xe hơi? Phải một ngàn năm…Con làm gì nào? Chức vụ cao cấp may ra mới trúng thầu và ăn hối lộ! Sinh nhật con ư? Tuổi Tí hay tuổi Dần, tuổi Sửu…Tiền ấy lấy ở đâu ra? Cái may rơi vào mấy người? Một đêm con sẽ đổi đời. Đứng về mặt nào đó, con và gã kia cùng một duộc. Con là anh hùng hay kẻ bần cùng kia? Thày đã đến với cái nghề này bởi sự bất mãn cái thói đạo đức giả. Muốn lấy của nhà giàu chia cho người nghèo, đọc được ở trong sách  và tích chuyện xưa một cách lôm côm. Nhưng cái mà làm cho thày mơ mộng là cái đẹp, là tài năng của bố vợ. Ông bấm độn mấy đốt ngón tay mà tìm thấy thiên lý ở đời. Ông chỉ cho thày giờ nào nên xuất hành và làm giả tiếng nói của con người và loài chó để dụ lũ chó ngao của nhà giàu. Con có biết sướng tới mức nào khi gói trong vạt áo rách rưới cơ man nào là vàng!

Lão Phượt mơ màng lôi từ trong cạp quần cáu bẩn ra những lá vàng có đóng dẫu chữ Nho, lão đưa lên mũi ngửi. Đôi mắt sáng long lanh như mắt thú rừng. Thày sẽ nuôi cho con ăn học, thành tài. Sẽ dạy cho con những bài bản bấm độn mà trường ốc bây giờ không ai biết được. Con có thể làm thày cúng, thầy phù thủy và nếu thất thế con sẽ ra ngồi ở chợ mà gieo quẻ cũng kiếm ăn được qua ngày. Vợ con ư? Nó cũng như loài người này, những kẻ ngu muội ở trần gian này thôi. Muốn nhìn ánh hào quang nơi con đấy. Con hãy rặn ra cho nó những từ, những khúc khi còn kịp. Cái tinh anh, biết đâu con trả nghĩa được cho vợ…Sau đó là thực dụng, bài ca của dạ dày. Nó réo sôi và tắt ngấm mọi thứ thi ca…Cái thằng Khánh, con cứ tin thày đi…Ta đã làm hại nó. Chức vụ cũng chẳng được bao lăm. Nhưng trong dòng máu của nó sự ham muốn lấy của người, nó sẽ bị người ta nhận ra. Thằng ăn cắp! Cái hỏng của nó là ăn cắp mà lại giảng về đạo đức con ạ! Tôi phục lão Phượt, mấy năm sau Khánh chuyển ngành, có chức vụ hẳn hoi, nhưng bể vì vụ chia nhau công quỹ. Chạy chọt mới thoát tội. Về hưu cũng phong lưu, nhưng cái bệnh : “cán bộ” mà chức bé, chức to gì là nhận tuốt.

Lão Phượt, tay cầm chén rượu lên tợp một ngụm, đắc chí nói:- Người ta chỉ nói càn nói xiên về những kẻ ăn cắp vặt, làm bẩn đến thanh danh của “kẻ trộm”. Tại sao lại gọi là “kẻ”? Đó là phân biệt một phẩm chất đặc biệt của nó. Không phải là kẻ vô học mà được thày dạy truyền thụ với chữ nghĩa phi phàm. “Sư phụ” là một người hiểu nhiều biết rộng. Ông ngồi một nơi mà chỉ huy ngàn dặm. Lấy của cải trong nhà bọn chúa đất, quan lại… như người lấy đồ trong tay áo. Ông tỏ vẻ tiếc cho Khánh, nếu hắn mà có chí, biết tiếp thu ngón nghề của ông biết đâu còn leo lên những chức vụ cao hơn. Đó là lúc người làng này trầm trồ ngồi nghe mấy anh Đặc công đánh Mỹ- Ngụy an dưỡng về nói chuyện với thanh niên. Ông nói khẽ vào tai tôi. Thày nói cho riêng anh nghe thôi, kẻo người khác nghe lại quy cho là lạc hậu- phản động. Thày cũng được “sư phụ” bầy cho phép “tàng hình” lúc vào trong nhà người ta để ăn trộm, nói cho anh biết rất huyền diệu không kém mấy anh kia. Đúng là số thày không gặp thời thế, gặp thành anh hùng cái thế cũng nên. Bây giờ thì ông khoen cho cái giọng bé lại cho mình tôi nghe thôi.

Anh có biết không, thày phải qua nhiều ải lắm. Lúc mới nhập môn còn bé tí, chịu sai vặt. Đứng mà cảnh giới cho “sư phụ” và các bậc “sư huynh”, “sư tỉ” hành động. Xem “sư phụ” điều nghiên như người đánh trận. Khôn lanh thì một năm, năm rười mới được lên một cấp. Cấp “Điện” như mấy anh “đặc công” biết cái lý để “ẩn mình”, nói là kỳ điệu lắm. Tại sao lại dấu được mình trước bao cặp mắt dòm, anh biết không. Biết “độn thổ” vào trong “lô cốt” của kẻ địch mà khua khoắng đồ. Nhưng cũng chỉ được vượt rào, làm cái anh khuân đồ, ngửi thấy mùi vinh quang nhưng vẫn là kẻ ăn theo mà thôi. Mặc cho khát khao “lập công” nhưng “sự phụ” cũng dằn cho biết kiên nhẫn mà chờ đợi. Ta nói cho con biết cái đạo của nghề này nguy hiểm, chạm đến sống chết như chơi mà lòng phải kiên gan, bền chí mới hanh thông được. Muốn “độn thổ” không phải dễ đâu mà phải biết chịu đói chịu khát, mặc cho kiến bu vào cơ thể, ròi bọ chui vào mũi làm run sợ toàn thân, phát rồ rại mà không được la lên. Mặc cho phân thúi nó xộc vào mũi cũng không được hắt hơi kẻo tánh mạng đưa ra mà đùa bỡn đó nghe. Khi vượt qua cửa ải này, thày ta mới đọc thần chú, giải cho những ca từ bất hủ mà chỉ những kẻ “đạo trích” mới có cơ thưởng lãm…

Lão Phượt rót ra đầy chén mắt trâu, nâng lên lại đặt xuống, có vẻ buồn rầu, giọng khó đăm đăm. Bọn chúng nó lấy cái tích mà thầy làm để rêu rao cho mất chức “chủ tịch” lúc “cải cách” là có lý. Nó ghen với ta được “sư phụ” truyền nghề và gã con gái của người cho đấy. Anh biết sao không. Sư Phụ là người có học cao đức trọng. Đáng ra ngài phải làm quan lớn trong triều kia đấy. Nhưng ông lớn tiếng lên án bọn tham quan mà ra nông nỗi ấy. Ông có cái lý sự hơn đời. Quan ăn cắp theo cách của quan, kẻ trộm ăn cắp theo cách của kẻ trộm. Nhưng kẻ trộm lấy của nhà giàu chia cho người nghèo, còn có nghĩa khí hơn tiền bòn tút nơi kho lãm, ngân khố…Nghe ngài bình về thơ phú, ta như sống lại, làm người lương thiện chứ không phải là “đạo trích” con ạ! Tôi nhìn thấy ánh mắt lóe sáng của Lão Phượt. Trong cái mờ đục của sương khói, lão đang dõi đến miền khát vọng vô biên mà đã bị bỏ rơi, đắm chìm. Lão muốn tôi dấn thân vào con đường đó hay sao?

Phải biết bấm độn, xem ngày giờ để cho những chúng sinh này, đội quân đầy “cảm tử” xuất quân. Đó là những kẻ bần cùng, nhưng có khát khao chiến thắng. Phải biết niệm chú, biết giải hạn cho những linh hồn khốn khó kia. Biết nương tựa vào sự hô hoán thần phật để xông lên. Anh bảo không có kỳ tài làm sao mở miệng ra nói. Gọi được sự bí mật của tạo hóa. Phải thành thục được phép tắc này. Nhưng lòng dạ phải thật sáng láng, ít ra là phải chân tu ba bốn năm. Lên được cấp “phong” kể là lớn gan lắm đó. Nếu không “sư phụ” sẽ làm phép cho ta giải nghệ. Ta thành kẻ ăn mày. Anh đã nghe chuyện những đứa ăn mày chưa, cũng biết chữ nghĩa lý sự đấy! Là học trò dốt của thày ta đó!

Tôi chết lặng đi trước sự thuyết giảng thao thao của Lão Phượt. Tôi không hề có ý hỗn láo gì, gọi là “bố vợ” không xứng một tí nào với cái danh” Lão Phượt” mà thiên hạ gọi. Lạ lẫm uy nghi. Nhưng đã ai biết về ông, bậc cao danh đang ẩn tích. Ông chọn tôi, đứa con rể khốn khổ này để truyền nghề.

Phải lên hết bậc: Sơn -Thủy - Hỏa - Mộc…mới thành chính danh con ạ! Phải biết dồn đất thành núi ngăn chặn sự truy đuổi của kẻ thù. Phải biết dồn đất như Khổng Minh Gia Cát đánh Mạnh Hoạch, phải biết vùi trong lửa mà không mất một sợi lông tơ nào…Phải như cái cây đại thụ không dao nào chặt đứt mới kỳ! Anh bảo không anh hùng, phi phàm sao? Không thế làm sao coi thường của cải, giàu sang mà ra đi? Để mà thành “trích” thiên được? Đừng so sánh tham quan với sự phụ nghe. Quan tham thấy của cải là hoa mắt, là nô lệ cho tiền tài…Nhưng sự phụ lại khinh thường của cải đó. Cái hơn thua là chỗ đó!

Tôi không còn biết nói với Lão Phượt sao cho phải. Cái mà tôi chăm chú cho là ước mơ thì lão bảo là trò đùa. Đến cái đẹp nơi người con gái, lão cũng cho là thứ gá lắp tạm bợ, thì cái gì là vĩnh cửu theo quan niệm của lão đây?

Chưa khi nào tôi chúng kiến sự phấn khích xen lẫn tự phụ của bố vợ tôi như lúc này. Có lẽ ông chưa bao giờ kể cho các con nghe về cuộc đời và sự chịu đựng “sinh vì nghề tử vì nghiệp” của mình, sự khắc nghiệt của “sư phụ” không thể nói hết. Đó là bài thi “tốt nghiệp” mà ông phải vượt qua. Ông nói, phà cả hơi rượu vào mặt tôi rát bỏng. Cũng là lần thứ 100 ông làm “đạo trích” đưa của nả, tiền bạc về dâng cho thầy. Nhưng chưa làm cho “ sư phụ” vừa lòng. Sư Phụ phải kiểm tra đứa học trò mà sau này là con rể và được ông truyền nghề. Người sẽ canh cái miếu thờ “tổ sư nghề này”. Sư Phụ nói:

- Con à! Thày sẽ đưa con đến một nơi…Con vào đó mười phần, chắc là con chết chín phần, con có dám không?

- Thưa Sư Phụ con xin vâng lời chỉ giáo của thầy ạ!

Ta được Sư Phụ dẫn đến một nhà cự phú, giàu nứt đố đổ vách. Không chỉ kín cổng cao tường, mà nhà đó có đội quân canh phòng cẩn mật còn hơn cả nhà nước. Ngoài lũ mặt người dạ thú, có súng ống ra còn một đội quân có cái mũi thính và hàm răng sắc được mua từ ngoại quốc với tên gọi rất đáng sợ. Bọn Ních, Lúc, Bốp…không sợ bằng chó ngao Tây Tạng, to như con bò, chỉ cần nó vồ một nhát là cái bìu đái coi như bay mất. Sư Phụ bảo ta trèo vào. Khi ta mới vừa tiếp đất, thày vội la lớn:

- Làng nước ơi! Có kẻ trộm! Ta nghe mà dái thót lên cổ. Tiếng la, tiếng mõ, tiếng hô hoán…Chuyến này chắc chết đến nơi rồi. Ta nép vào cánh cổng  và chờ vào sự may ruổi của số phận. Vận dụng hết cái phần vốn được học về phép tàng hình mà thày dạy. Lúc này, có tiếng đập vào hai cánh cửa lim của gia chủ:

- Mở cửa mau…Chúng tôi nhìn thấy kẻ trộm nhảy tường vào đó rồi…Vây bắt mau!

Chờ cho cánh cửa mở ra. Ta đã nhập vào đội quân đi lùa kẻ trộm. Thật hú vía. Về gặp thầy. Ông dắt tay ta đến cô con gái rượu, ngài bảo:

- Ta đã chọn được đứa con rể xứng đáng để gã rồi đây! Đó là mẹ của con. Mẹ đã đẻ cho ta những đứa con xinh đẹp, Mận là đứa con gái đẹp nhất mà con đã lấy được. Thật là vinh dự cho con đó. Trầm ngâm trong chén rượu như tìm thấy điều mới lạ. Ông nói khẽ vào tai tôi, nhưng nghe như lời truyền:

- Thầy còn vàng giấu nơi bãi tha ma mới móc lên…Ông giơ những lá vàng “kim thành” sáng lóe trước mặt tôi. Thầy sẽ nuôi con ăn học thành tài…Khi nào con thấy “linh hồn” mà bế tắc…Ta sẽ “truyền nghề” cho con!

Ai cũng ít nhiều nghe kể câu  chuyện về kẻ trộm. Dẫu đã nhàm chán. Chuyện đi ăn trộm. Chuyện đi ăn trộm, khi nào thầy tôi truyền nghề và thực hành, tôi sẽ kể cho bạn nghe tiếp.

Truyền nghề

nguyentinh | 21 May, 2012 10:45

                                              Truyền nghề 

                                                                                                                    Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh                                                 

    Tôi lấy vợ, chỉ cách một bờ rào. Ngày trước rào gai, xương rồng, nhà vợ là hàng xóm. Thày tôi được ông bà nội chia cho nhà ngói sân gạch, nói chung là “nhà có máu mặt” ở cái làng này. Nhà vợ tôi, dân ngụ cư, ở nơi khác đến. Không ai rõ tăm tích, “lai lịch” thì… phức tạp, nếu không nói là bất hảo. Lấy “cô hàng xóm”, cũng không nhiều thơ mộng như mấy nhà thơ viết “nhà nàng ở cạnh nhà tôi” đâu. Hàng xóm, cũng là đặc biệt. Cái năm “cải cách ruộng đất”, nhà bố vợ tôi được chia “quả thực”- nhà tôi. Ông đang sống vất vưởng ở đâu, một bước nhảy vào cai quản dinh cơ của bố mẹ tôi, nhà tôi bị đuổi xuống ở chuồng trâu. Ông Phượt không ác độc gì cả, tự dưng người ta gọi đến, nghèo nhất làng, nhác nhớn, chây lười mà vớ bẩm. Mấy người tố dai và điêu toa, nhưng vì tham của mà tranh nhau nên đến tay ông, thế thôi. Lúc tôi là con rể, ông mới nói như thế và cười khấc khấc rất thoải mái. Tôi khổ vì  anh vợ, Khánh cùng tuổi, lêu lổng. Thấy tôi ló mặt ra khỏi chuồng trâu là hô “đã đảo” làm tôi vội thụt đầu vào trong như con chuột. Lúc “sửa sai” người ta trả lại nhà cho nhà tôi, nó nằm lăn ra sân ăn vạ, không muốn rời nhà ngói sân gạch. Làng xã thương tình đành chuyển cái chuồng trâu nhà tôi sang cái vườn liền đó, cho nhà ông Phượt ở nhờ. Lúc lấy lại được nhà, trả thành phần “lao động” là sướng rơn. Nhà tôi cũng nhân nhượng, không coi chuồng trâu và mảnh đất thẻo ở cạnh là gì. Ông chủ tịch xã kê đùi viết tay cho cái giấy “chứng nhận” ông Phượt làm chủ mảnh đất ấy. Nó là mầm cho tai họa về sau.

Họ hàng không ai đồng ý cho tôi lấy con gái lão Phượt, dù nó có đẹp như tiên giáng trần. Đời, quả là nực cười. Tôi thật luẩn quẩn, là sau này tôi mới nghĩ thế, chứ lúc đó nhìn thấy Mận không sao mà rời được mắt. Mận đẹp thật. Tôi không tài nào để chỉ ra mỗi nét đáng yêu nơi em. Cái thằng anh của Mận, ai ngờ lúc nhỏ nhìn thấy tôi ở đâu là “đả đảo” ở đó, nay đến nhận cái chức chính trị viên đại đội của tôi. Và Mận, đến thăm anh. Tình hình của tôi cũng thật là thảm hại. Bữa trước tôi rất khinh nhà đó, không có miếng mà ăn, quanh năm cắp rá đi vay khắp cái làng này. Đã thế mồm miệng lại hay ra điều. Các người cứ chờ đó, sau các con tôi sẽ làm ông to bà lớn cho mà xem. Quá lắm thôi. Ai lại sinh ra cái máu me cả nhà đều thích đi làm cán bộ. Nói bây giờ tôi sẽ phạm vào cái tội nói xấu nhà vợ. Tôi sẽ bị vợ rày la, tốt đẹp thì phô ra, xấu xa đậy lại. Nhưng biết sao được, mọi chuyện còn ở phía sau, mà phía sau lại có nỗi uẩn khúc này. Ví dụ bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, có “Hội mẹ chiến sĩ”đón tiếp, vợ của ông Phượt dĩ nhiên là sẽ gương mẫu rồi. Là người tích cực để nói tiếng “Thủ đô”. Đến tối thì nói là “đến túi”…vv…Ông Phượt thì khỏi nói, là phần tử gốc rễ, nhưng lần bị cu Phu mượn chén mà bóc mẽ, mất hứng, cũng bỏ luôn cái chức vụ ở đâu trôi đến. Lão cu Phu, đi khắp ngõ xóm rêu rao:- Cán bộ gì cái ngữ ấy! Toàn bọn đầu trộm, đuôi cướp cả đấy thôi!

Lúc Khánh, anh của Mận lù lù xuất hiện với chức vụ Chính trị viên đại đội, mặt mũi tôi sa xẩm, không hiểu là mình bị bệnh hay choáng váng, cơ trời sao lại đẩy tới cái nước này. Tôi nghe nói có cán bộ mới, nên tiện mà vào chỗ chỉ huy xem có thư hay báo không. Ai ngờ được, Khánh đã nhìn thấy tôi, đang định vồn vã mà hắn đã kìm lại, chính trị viên phó thấy vậy, vội nói:

-   Báo cáo anh…chúng tôi mới “ đề bạt” cậu Khu làm thợ sửa chữa thay cho cậu Đảng vừa hy sinh đấy ạ!

Tôi chưa dám chào Khánh bằng cái gì, ra sao cho tiện. Không thể gọi là thằng, có mà nhũn xương. Cái miệng của hắn há ra, vì ngạc nhiên hay vì định gọi mày tao chi tớ như lúc ở nhà. Kịp ngậm lại miệng. Chắc người khác cũng làm thế thôi. Cái Mận ở đâu từ ngoài trận địa ào vào, mang theo cái hương vị hấp dẫn của con gái:

-   Ôi!Anh Khu…Anh cũng ở đây phải không? Mận ôm chầm lấy tôi, thú thật tôi cũng bất ngờ vì Mận lớn nhanh vậy. Tôi chưa hề ôm gái, cơ thể mượt mà của em làm tôi rung động, không nói được lời nào. Khánh tỏ ra khó chịu, chẳng gì thì hắn cũng là thủ trưởng của đơn vị này. Nắm phần sinh phần sát của hàng trăm con người chứ chả chơi. Xưa kia, cha ông của Khánh làm sao mon men đến cái  chiếu dành cho những ông tiên chỉ của làng này. Bây giờ, đã đổi đời, những người có lý lịch như Khánh, sao mà trong sáng và sạch bong, có điều kiện để vào học các trường sĩ quan và cứ thế, chiến tranh mà kéo dài, chưa biết chừng thành tướng cũng nên. Một ý nghĩ tệ hại xuất hiện trong óc tôi, hay ta xin đi đơn vị khác, cái thằng ngu lâu này, có phải ngày xưa ở quê có ai tính tiền? Khổ quá Mận thì  chưa hết niềm nở:

-   Thích quá! Anh Khu và anh Khánh em lại ở một đơn vị!

-   Này Mận! Em cũng liệu liệu mà ăn nói, chả gì anh cũng là thủ trưởng của đơn vị này đấy!

Không riêng gì bọn lính trẻ, mà cánh lính già cứ xúm lại mà đùa vui, nịnh cũng có mà chắc là nói thật. Thời buổi chiến tranh, trên cổ áo mà đeo quân hàm trung úy, mới ngoài hai mươi kể là tươm tất lắm. Lại có cô em gái mơn mởn học đại học, một sự thèm khát cho người đời. Về phần mình, biết là gặp khổ như người bị ném lao ở phía sau, nhưng kêu ai? Người đi cùng một đợt, kẻ thì được đề bạt, người được điều đến đơn vị mới là hạt nhân cho xây dựng đơn vị chiến đấu. Người ta xếp làm cái anh “thợ pháo”, dưới con mắt mọi người cũng là nhàn. Pháo hỏng nhẹ tự sửa, hỏng nặng thì gọi điện lên trên cho thợ xuống, mình chầu rìa chờ sai vặt. Cán bộ đại đội thấy cần điều đi làm việc long tong. Bây giờ thật ê mặt, khi Khánh xuất hiện. Cũng không cần dọa dẫm gì, tôi đã run lên vì mọi sự việc trong gia đình mình hắn đã rõ như ban ngày. Không có Khánh đã thấy khổ tâm, mỗi khi người ta đưa ra tổ đảng để nhận xét xem có được nhìn ngó đến hay không. Đối với người có lý lịch không trong sạch ai cũng ngại. Vì sợ mắc mớ vào quan điểm giai cấp, mà vấn đề giai cấp đối với người có học còn rối như tơ vò huống chi là mấy anh văn hóa thấp…Đã thế, tôi cũng không cần “phấn đấu” làm gì, Khánh nó không đời nào chiếu cố đến hoàn cảnh của mình đâu. Nhớ đến cái đoạn nó nằm lăn trên sân ăn vạ, không muốn rời khỏi nhà tôi mà buồn cười cứ muốn cất lên thành tiếng mỗi khi gặp mặt. Nhưng chuyện Mận gửi thư cho tôi thì rõ là. Không thể nói là tiếng tăm về sự học còn ít nhiều dư âm trong làng xã. Ngay tiếng đồn về sự giàu có của ông bà tôi cũng làm cho người đời thán phục và ghanh ghét. Không hiểu ai nói mà Mận cũng biết tôi có máu văn chương, nên gửi thơ và “gây chiến với tôi”

 Có chàng pháo thủ quê Phủ Thọ

 Đi lính mang theo sách Văn Thơ

 Thương nhớ cô em nơi Hậu Tuyến

 Gặp nhau Trận Địa thật không ngờ

 Mai kia, kẻ thù vào, nổ súng

Trút lửa căm thù có em thơ

Tình yêu ấy từ quê nhà gửi đến

Có em yêu… ngày tháng mong chờ!

Tôi cảm thấy một điều gì bất ổn. Thư của tôi chắc chắn là có người xem trộm. Thằng dằng thì cái thằng Khánh ghẻ lở mọc đầy người kia có gì mà tranh luận. Nhưng bây giờ cái thói đời là người ta lấy “chức vụ “ ra để mà nói chuyện. Khánh đã gọi tôi lên đại đội để gặp. Tại sao không phải người khác mà là hắn?

- Tôi cũng được nghe các anh ở đơn vị báo cáo lại…

- Vâng! Tôi dằn lòng đáp lại…Đáng ra là một lời thưa, hai lời gửi: “thủ trưởng a!” “chính trị viên ạ!”  nhưng mà tôi khó nói quá…Cách đây không lâu tôi có coi nó ra cái thá gì chứ?

Về động cơ phấn đấu tốt. Mặc dù thành phần giai cấp của ông bà, cha mẹ, ai làm người ấy chịu. Nhưng đất nước còn chia cắt. Bọn Mỹ Diệm ( Diệm chết từ đời tám hoánh nhưng người ta cứ quen miệng mà quy kết cho) muốn lấp sông Bến Hải xâm lược miền Bắc - Xã- hội- chủ- nghĩa…Đồng chí đã qua thử thách bom đạn… người ta dễ thì ghánh nhẹ đi gần, mình khó khăn thì ghánh nặng đi xa. Kiên trì cũng sẽ tới đích. Sự nghiệp Cách mạng không thể do một cá nhân mà làm nên. Phải do nhiều người. Dứt khoát là thắng lợi. Đồng chí có tin vào tổ chức không nào?

-   Có! Tôi tin vào sự công bằng đánh giá của cấp ủy ạ! Thật là thảm hại cho tôi, nếu ai mà quan sát bộ mặt mình lúc đó…Nhưng mà tôi biết làm sao bây giờ. Không hiểu sao Khánh lại nổi khùng lên với tôi. Lên lớp về giai cấp bóc lột, muốn ăn trên ngồi chốc. Chã khác gì hắn cứ nhằm vào tôi mà đã đảo như hôm  nào rước đuốc qua cổng  nhà tôi là dừng lại.

-   Đả đảo địa chủ cường hào gian ác nào! Hai ba “ đả đảo”…

-   Đả… đảo! Đả… đảo! Đảo…đảo!

Tôi cũng thấy bất bình, có phải như ngày nào tôi đấm vào mặt cái thằng mất dạy này. Nhưng bây giờ tôi mà hành động ngu xuẩn là thế nào cũng bị bắt trói đưa lên trên về kẻ dám chống lại cấp trên, con em kẻ thù giai cấp, chết sặc tiết.

-       Tất nhiên là tổ chức sẽ không bao giờ quên những cố gắng của quần chúng đâu. Trời ạ! Tôi không hiểu nó cáu gắt với tôi, lại quay ra vỗ về cái gì mới được chứ, tôi có phải là trẻ con đâu?

-       Để thử thách đồng chí! Bây giờ địch cũng ném bom hạn chế…Đơn vị mình cũng cần chăn nuôi, phát triển đời sống, để có sức chi viện cho tiền tuyến. Đồng chí phụ trách “đội chăn nuôi”…Trời đất ơi! Có hai mống mà cũng gọi là “đội” hay sao? Thôi thì cũng ra đi để khỏi giáp mặt với Khánh vẫn là hơn. Tôi và một tên, cũng là loại bửa của đơn vị xuống ở ngay cái đình làng làm bếp nuôi quân của đơn vị. Biên chế vào tiểu đội nuôi quân, nhưng theo cách nói của chính trị viên trong sinh hoạt là “đội chăn nuôi” này được giao chỉ tiêu rất đáng tin cậy. Tôi chửi thầm, thằng này nó dăng bẫy để ký luật mình đây! Một năm phải nuôi được ba tạ thịt lợn Móng Cái cho đơn vị, thời ấy giống má và thức ăn khan hiếm là một việc còn khó hơn lên trời mà bắt phi công Mỹ. Nhưng Khánh muốn sỉ nhục tôi với mọi người, nhất là em gái của hắn. Lạ thật, từ khi Khánh về làm chính trị viên, quan điểm về thành phần giai cấp hầu như lúc nào cũng được nhắc nhở. Kẻ địch như lẫn khuất ở khắp nơi, các cặp mắt hầu như căng ra mà phát hiện kẻ địch, nhưng phát hiện chán không thấy nên đổ dồn vào tôi lúc nào không hay. Kẻ hiểu biết thì nói, cái thằng khổ còn hơn con chó, gặp phải cái thằng Khánh ngày xưa khố rách áo ôm, con lão đầu trộm đuôi cướp, nay lên ngôi, mới đì cho kỳ ra bã. Có kẻ vì thấy tôi có vẻ dững mỡ, thơ văn phú lục nên bõ hờn. Cho chết. Cái thói muốn  cưỡi đầu cưỡi cổ con em nông dân. Tôi nghe nói lại, Khánh đã chỉ mặt Mận nói:” Anh là cấm tiệt cô, quan hệ thư từ với cái thằng con nhà thành phần bóc lột đó…Đơn vị đã đuổi nó xuống nuôi lợn rồi…thơ phú gì cái ngữ ấy!”

 Mận gần tôi bởi những câu thơ buồn nãn ấy. Bình tĩnh mà ngẫm nghĩ, nó cũng không lấy gì gọi là thơ đâu. Nhưng thấm nỗi chua chát mà con người bầy đặt ra, sự ghét bỏ mà loài người ngu muội vô thức dồn cho nhau. Mận không ngờ lại mủi lòng, có sự đồng điệu với suy nghĩ của tôi. Thật ra thì em đã cảm phục cái đức học của tôi lúc còn bé con. Nghĩa là vớ được tờ giấy gì in chữ là đọc cho kỳ hết. Và cũng nhờ sự tiếp thu vô tội vạ ấy mà sớm có thiên hướng xúc cảm với những cảnh mình và tình người một cách dễ mùi mẫn. Gặp cảnh ngộ của mình lúc này lại càng dễ tấm tức, thành chương…Khánh nói hàm ý đầy bóng gió, rằng đứng trước cảnh nước sôi lửa bỏng lúc này, người chiến sĩ phải thế này thế nọ, không được ủy mị, không được chùn bước…Sau này sống dai, gần với nỗi thống khổ mới nhận ra, người ta xuất thân ở địa vị nào, cao hay thấp hèn, có điều kiện “lập ngôn” là dễ bề uốn giọng điệu lên gân thật véo von. Tôi phải cảm kích Mận, bị Khánh ngăn cản mà vẫn dấu diếm đến thăm. Thậm chí không thăm Khánh mà tranh thủ đến “trại chăn nuôi” thăm tôi. Có phải ngày xưa, người nhà lão Phượt mà được gã bán cho nhà tôi là cái phúc lớn, tạo ra danh giá cho nhà Khánh nhiều lắm. Nhưng bây giờ khác rồi. Lấy tôi là Mận đi vào con đường rậm, chông gai, khã năng phấn đấu cũng coi như là xong. Muốn ngóc đầu dậy khó lắm thay. Nhưng chính sự uấn khúc đó là chốn mộng mơ cho những câu chuyện tình lãng mạn. Khánh đã cảnh báo cho em gái là cấm chỉ không được quan hệ với tôi. Khánh nói, con đường mở ra trước mắt của Mận với bao triển vọng. Chả gì cũng là sinh viên đại học, thành phần cơ bản, anh là chính trị viên đại đội, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Mận làm sao mà không lấy được một tấm chồng danh giá. Quả Khánh nói đúng. Có mấy thày giáo dạy đại học, cụ thể là dạy bọn Mận đi thăm quan trận địa anh hùng bắn rơi máy bay Mỹ ghé qua chỗ đại đội tôi. Mặc dù Khánh cũng chẳng công lênh gì, cái ông chính trị viên trước làm nên công trạng, nhưng cứ thế mà nhân danh để nói. Đài phát thanh ra rả về người trẻ tuổi mà lập công to rót về làng quê hẻo lánh nhà tôi mà tôn thêm cái oai phong đổi đời của lão Phượt. Sự cấm đoán của Khánh càng tăng thêm niềm tin cho tôi và Mận quyết tâm đến với nhau, bất chấp tất cả mọi thứ, mất tất cả những gì mà gần mười năm đi qua chiến tranh, bom đạn không hề nghĩ đến chùn bước hoặc đào ngủ, giao động trước bom đạn của kẻ thù.

- Cậu có tình nguyện cắt bỏ quan hệ với Mận, hay để tổ chức cắt bỏ danh nghĩa cảm tình đảng? Suy nghĩ cho ký đi rồi trả lời tôi nhé!

- Cũng không cần suy nghĩ gì đâu. Tôi không nghĩ vì tôi yêu Mận mà cắt “cảm tình” của mình đi, thật là vô lý.

Tôi đã trả lời Khánh như vậy. Nhưng những con lợn bị bệnh đã vào hùa cùng Khánh mà hại tôi. Không hoàn thành nhiệm vụ trên giao về chỉ tiêu chăn nuôi, là phần tử chậm tiến, không thể phát triển được. Cũng không có kẽ hở nào để họ gắn cho phần tử địch, cũng là may vì nếu ở trên trận địa biết đâu những câu thơ ủy mị của tôi chẳng bị vu cho là ăn phải bã của “tâm lý chiến của địch”. Tôi đã rời khỏi đơn vị “cho khuất mắt” như lời Khánh nói với Mận. Nhưng mà tôi đã làm chuyện xấu, bị lên án, bây giờ thì bình thường, chúng tôi yêu nhau thì có quyền trao tặng tình yêu cho nhau, có gì đâu mà phải lăn tăn. Nhưng lúc đó “nâng lên quan điểm “ là vãi linh hồn như chơi. Là khó tìm đất để sống , huống chi là tiến bộ. Mận không hiểu sao lại nói với mẹ là có quan hệ luyến ái ( nói dối có thai, lúc chưa cưới hỏi) mới chết tôi chứ! Ông Phượt thì hả hê, như thế là tao sắp có cháu bồng rồi. Trứng rồng lại nở ra rồng, con liu điu thì đẻ ra dòng Liu điu. Thật bất ngờ, lo người “chống đối” là lão, hóa ra lão Phượt là người ủng hộ tôi và Mận trong lúc tủi cực nhất. Khánh biết chuyện đã dọa tước quân tịch của tôi đuổi về địa phương, vì quan hệ trai giái bất chính. Nhưng Mận và lão Phượt đã làm già. Mẹ nó chứ, cái dân ngụ cư như nhà nó mà được gã bán cho cháu nhà Cố Cữu ( ông tôi) có mà phúc lớn. Con ạ! Ai nói sao thì mặc lòng, bố nhận con là rể đấy…Tôi thầm ơn ông và cùng với đội quân đi lao động, dọn bãi chiến tranh lúc Mỹ ném bom hạn chế ở miền Bắc. Tôi cũng không còn mấy mặn mà chuyện phấn đấu này nọ nữa. Lòng đắng ngắt chuyện bất bình, rằng anh cứ hẵng cố gắng, thành tâm thì lay động tới trời xanh. Trong tâm tư đầy ngao ngán. Đám cưới không mấy thuận. Họ nhà mình thì tiếng bấc tiếng chì, tưởng là gì chứ nhà ấy lấy làm chi? Dân ngụ cư, nhà ấy…khó ngửi lắm. Tất nhiên phía ông Phượt không nặng nề gì lắm. Khánh không về là mừng cho tôi, khỏi phải thi lễ hắn làm gì. Tôi yêu Mận (và đứa con trong bụng nàng) là mãn nguyện rồi. Cũng cần nói cho mọi người hay, nhà ấy có nòi đẹp, nhan sắc làm xiêu lòng những bậc mày râu. Bà mẹ của Mận cũng đẹp lắm. Lão Phượt tự hào về nhan sắc trời ban của con cái lão. Nhưng người biết thì rỉ tai, hừ cái nòi nhà ấy…họ cười…Mà người phải hứng chịu sao lại là tôi?

Tôi thành kẻ liều lúc nào không biết nữa. Mận quá tự tin vào tôi nên mới ra cơ sự này. Những vợ chồng trẻ thời ấy đều suy nghĩ như vậy thôi. Mận nói, anh đừng sợ gì cả, cứ hãy về quê đi, một xuất lương của em, với sức học của anh thế nào cũng vào được đại học và “con đường văn chương” có cơ mở ra cho chúng mình thôi. Tôi yêu Mận quá, em đẹp mà lại có trái tim bao dung. Tôi đọc cho Mận nghe những câu thơ bằng giọng nghẹn ngào. Em đầm đìa nước mắt, nước mắt rơi lã chã trên mặt con trẻ. Chỉ cần có vẻ gì là gượng ép nơi nét mặt em, cũng là bản án tử hình tôi bởi sự thất vọng và nỗi đau ề chề của kẻ thất bại. Nhưng em xúc động thật sự bởi những vần thơ nghèo nàn của tôi, mà niềm tin cũng được chắp cánh. Ông Phượt cũng có trái tim bao dung, nói với tôi và con gái:

- Anh ấy không làm được tướng tá nơi sa trường thì cũng làm được người hùng ở đời con ạ! Còn rừng thì lo gì củi đốt! Hả con?

Tôi đã bỏ biên chế rất ngon ăn, đội quân thu dọn sau chiến tranh “ công nhân mặc áo lính” để về quê giặt tã lót cho vợ con, như lời mỉa mai của Khánh. Chính quyết định này mà sau Khánh đã khoét sâu vào làm tôi đau lòng. Rằng loại người không giác ngộ được, bám váy đàn bà thì làm sao mà ngóc đầu lên được. Nhưng điều ấy, chưa làm đau lòng bằng ông Phượt đã chọn tôi làm người kế nghiệp nghề ông cha để lại.( xem tiếp)

Nhà văn Lê Lựu...

nguyentinh | 14 May, 2012 10:50

Nhà văn Lê Lựu và "gã dở hơi"


 

 

 

 

 

Trong giới văn nghệ sĩ, Lê Lựu được ví như "quả bom nổ chậm". Chuyện gì về ông người ta cũng đem ra bàn tán. Người khen cũng nhiều mà kẻ chê không ít. Có người bảo Lê Lựu là thiên tài văn chương, là Maxim Gorki của Việt Nam, có người lại bảo ông là lão nhà quê. Còn tôi thấy Lê Lựu của hiện tại khác với Lê Lựu ngày trước rất nhiều...

Lê Lựu bây giờ không thể nói chuyện oang oang hàng tiếng đồng hồ, không thể đi lại thoăn thoắt như xưa. Ông dễ nổi nóng hơn, quát mắng mọi người nhiều hơn và hơi tí lại bật khóc vì những việc hết sức bình thường.

Có thể kể ra đây hàng tá những giai thoại về ông. Tỉ dụ như (theo cách nói của Lê Lựu) một tối nọ Lê Lựu bỗng nhiên thức giấc và phát hiện chỉ có một mình ở nhà (có cậu nhân viên không biết trốn đâu mất). Sợ quá, ông lập cập đi về phòng khóa chặt cửa lại và rút điện thoại bấm số gọi cho Cảnh sát 113 "báo án". "Tôi là Lê Lựu, số nhà… ngõ… các anh cho người xuống ngay, trộm nó phá cửa vào lấy hết đồ nhà tôi". Đầu bên kia, anh Cảnh sát 113 hỏi: "Thế bác đã mất gì chưa ạ?". Nhà văn bảo: "Chưa mất gì, tôi cứ báo trước để đến lúc mất các anh xuống là vừa". Nghe thế anh Cảnh sát liền bảo: "Vậy bác cứ đợi khi nào mất cái gì thì hãy gọi điện nhé…!".

Rồi chuyện Lê Lựu mua nhà - chuyện kể mà không ai tin. Biết là ông đang tìm mua nhà, cô nhân viên của ông bảo để cháu bán cho. Không chần chừ ông mua luôn, giao hết toàn bộ tiền một lần chỉ với một tờ giấy viết tay mà chẳng cơ quan, chính quyền nào chứng nhận cho việc mua bán này. Vì theo Lê Lựu, không tin nhân viên thì còn tin ai? Hậu quả của niềm tin đặt không đúng chỗ là ông phải chạy khắp nơi để làm thủ tục trong gần hai năm. Thế nhưng khi cho người ta thuê nhà với giá vài triệu đồng, ông lại cẩn trọng mời hẳn luật sư riêng, soạn thảo hợp đồng với những điều khoản vô cùng chặt chẽ. Ông bảo cẩn thận không thừa!...

Còn rất nhiều cái "dở hơi" khác của Lê Lựu phát sinh trong cuộc sống hằng ngày. Cách ông đi chợ cò kè mớ rau, lạng thịt, mè nheo với bà đồng nát chỉ vì một nghìn giấy vụn đến nỗi nhiều mụ đàn bà cũng phải… chào thua. Vì nhân viên đi chợ hay bị mua đắt nên thỉnh thoảng có thời gian ông vẫn đích thân đi. Có lần ông đi chợ về, vẻ mặt hớn hở vì mua ba mớ rau muống chỉ mất tám nghìn, trong khi vừa mới hôm qua thôi, nhân viên của ông mua tám nghìn một mớ. Dù cho mớ rau ông mua có phải vứt đi gần hết vì hỏng nhưng không hiểu sao vẻ mặt nhà văn lại hỷ hửng đến lạ thường.

Một lần khác về quê, thấy bên đường bán nhiều đào (vì sắp tết), ông nổi hứng lệnh cho lái xe dừng lại để mua một cây. Khi người bán đon đả phát giá: "Một trăm tám mươi nghìn một cây bố ạ", kể ra thì giá ấy cũng là quá rẻ rồi, nhưng Lê Lựu tỉnh bơ hỏi: "Mười tám nghìn có bán không". Người bán hàng mặt từ tươi rói chuyển sang méo xệch chắp tay: "Con lạy bố, bố có thì bán cho con" rồi bỏ đi. Chúng tôi thở phào vì may mà không bị chửi.

Ấy vậy nhưng Lê Lựu lại sẵn sàng giúp đỡ những người túng khó. Ông bỏ ra rất nhiều tiền để làm việc nghĩa mà không mất một giây đắn đo suy nghĩ. Vì nghĩa tình với người bạn đã mất, ông bỏ tiền ra và đi xin các doanh nghiệp để xây cho cố nhà thơ Phạm Tiến Duật ngôi nhà lưu niệm. Ngôi nhà mà như NSND Trọng Khôi nói: "Lúc sống anh Duật cũng chưa bao giờ được ở trong ngôi nhà lớn như thế". Tuy ngôi nhà được xây dựng bởi sự hảo tâm của nhiều tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp, bạn bè yêu thơ Phạm Tiến Duật, nhưng có một điều chắc chắn là nếu không có nhà văn Lê Lựu thì không có công trình trên.

Mỗi lần nhắc đến chuyện ở quê, nhà văn lại xúc động rơi nước mắt. Ông bảo, ngày trước nhà ông nghèo nhất làng, làng ông nghèo nhất thôn, thôn ông nghèo nhất xã, xã ông nghèo nhất huyện, huyện ông nghèo nhất tỉnh, tỉnh ông lại nghèo nhất nước… Cái gì quê ông cũng là nhất hết. Mấy năm trước, làng không có đình như những làng bên cạnh, điều đó khiến ông lúc nào cũng sống trong tâm trạng day dứt. Thế là ông đứng ra kêu gọi bà con, bạn bè mỗi người đóng góp một ít. Vì là người đóng góp có tính chất quyết định nên vai trò của ông rất quan trọng.

Trong cuộc họp bàn về việc khởi công xây dựng đình, mọi người bảo: "Báo cáo bác Lựu, tất cả vật liệu chúng em đã chuẩn bị hết rồi, giờ chỉ thiếu mỗi  xi măng, sắt thép và tiền nữa thôi là việc xây dựng được tiến hành…!". Chao ôi, chỉ vì cái thiếu "một chút" ấy mà ông lại chạy khắp nơi vay mượn, xin vật liệu. Công trình đâu phải xây một nèo là hoàn thành. Mọi người ở quê nghĩ ông là nhà văn lớn nên tưởng ông giàu có lắm. Vậy là cứ khi nào công trình gặp khó khăn do hết tiền là lại gọi điện: "Trăm sự nhờ bác, chúng em chỉ biết trông chờ vào bác thôi". Phải mất mươi năm ngôi đình quê ông mới xây xong. Hôm khánh thành, nhà văn Lê Lựu thuê hẳn Đoàn chèo Hà Nội về biểu diễn phục vụ bà con khiến ai cũng vui ra mặt. "Ấy thế hóa ra đình làng tôi lại oai nhất" - Nhà văn không giấu được vẻ hãnh diện. Nhưng mỗi khi có người nhắc đến công sức đóng góp của ông, ông lại bảo: "Làm việc nghĩa là cấm được kể công hay tính toán".

Năm nay nhà văn đã bước sang cái tuổi mà các cụ gọi là "tuổi xưa nay hiếm". Ông từng phải cấp cứu mấy lần vì xuất huyết não. Tuy chân đi lại khó khăn nhưng sự hài hước và minh mẫn về đầu óc của Lê Lựu mấy ai sánh được. Ông có thể đọc vanh vách cho mọi người nghe truyện "Tết làng Mụa" hay "Người về đồng cói" mà không sai một chữ. Ông say sưa kể chuyện năm lên tám tuổi ông đã chết hụt, gia đình bó chiếu đem chôn, nhưng khi anh cả lấy tay sờ vào người ông thì phát hiện ông còn thở. Mọi người lại bế ông vào nhà. Lúc đó ông đã ở tình thế mắt trợn ngược, mặt ngửa lên trời, người úp sấp xuống đất. Người ta lấy rễ cà mài lấy nước trộn với sắc rắn, đốt thành tro rồi cậy miệng đổ cho ông uống. Một vài tiếng sau, kỳ tích đã xuất hiện, đầu ông dần dần quay lại nằm sấp cùng với thân. Mọi người mừng rỡ reo hò: "Sống rồi! sống rồi!".

Chuyện năm mười tuổi ông đi thi lớp bình dân học vụ trên huyện."Sau khi viết chính tả xong, tôi không sao làm nổi bài tính đố. Khi anh hai đến đón, hỏi tôi có làm được bài không, tôi thú thực với anh rằng:"Đề khó quá em bỏ giấy trắng". Anh tôi ngạc nhiên hỏi: "Ở nhà em đã biết cộng đến con số mười rồi, hôm nay đề chỉ là 3 + 5 sao lại không làm được?". "Tự vì ở nhà không có mìn và lựu đạn, ở đây lại là 3 quả mìn cộng với 5 quả lựu đạn. Em không biết mìn với lựu đạn có cộng được với nhau hay không". Từ đó anh dạy tôi không những mìn cộng với lựu đạn mà cả súng trường, đại bác cộng với nhau tôi cũng làm được" - Ông cười, đôi mắt sóng sánh.

Nhà văn Lê Lự bảo, ngày bé ông học rất dốt, nhất là môn văn, chỉ toàn một, hai điểm. Có lần kiểm tra, thầy giáo ra đề bài là tả một buổi sáng tựu trường thì ông lại tả toàn núi và tuyết. Hôm trả bài, thầy giáo đe: "Nếu bài sau còn kém như thế này, tôi sẽ đuổi anh xuống học lớp bốn", nghĩa là ông sẽ phải về học ở xã trong khi sáu huyện Bắc Hưng Yên mới có duy nhất một trường cấp 2 này, cả xã chỉ có năm người được đi học.

Mười bảy tuổi ông đi nghĩa vụ quân sự. Ông bảo, lúc đầu mới tập tành viết, viết rồi gửi đi đến hơn năm mươi bài mà không có hồi âm. Đến lần thứ 54 thì được đăng một tin đúng 26 chữ: "Theo Lê Lựu đại đội 25, đoàn Sông Thao, quân khu Tả Ngạn: Đại đội 25, đoàn Sông Thao diệt được hơn 38 vạn con ruồi". Chỉ có thế thôi nhưng đó là niềm khích lệ lớn với ông, ông cắt mảnh báo đó nhét vào ví mang theo bên mình và thỉnh thoảng không có người lại lấy ra xem. Ông thường nói với mọi người: "Lê Lựu mà viết được văn thì chó nó cũng viết được".

Với ông viết văn là phải rút ruột mình ra mà viết. Cho đến bây giờ, khi công danh ở đỉnh cao nhưng ông vẫn miệt mài làm việc. Nhiều người nghĩ, ông làm Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân lại cộng thêm tuổi cao sức yếu thì niềm đam mê dành cho văn chương không còn. Nhưng Lê Lựu bảo: "Có thằng nhà văn nào bỏ được nghề. Một anh thợ xây, một anh giáo viên hay một bác sĩ có thể bỏ nghề, nhưng một nhà văn bỏ viết thì không thể. Chỉ có điều mỗi thời điểm nhất định nhà văn cho ra đời những tác phẩm hay hoặc chưa hay thôi".

Giữa năm 2009, nhà văn cho ra đời cuốn tiểu thuyết dày 131 trang: "Thời loạn". Năm 2011, ông tiếp tục xuất bản cuốn tiểu thuyết lịch sử: "Ở quê ngày ấy", với độ dày 229 trang. Khách quan mà nói, về mặt văn chương thì cả hai cuốn tiểu thuyết trên còn rất nhiều khiếm khuyết, nếu ngoài bìa không có chữ: "Tiểu thuyết của Lê Lựu" thì một người sành đến mấy cũng không thể tin đấy là văn Lê Lựu. Chính nhà văn cũng công nhận do yếu tố sức khỏe nên ông viết không được như trước, câu chữ không được sâu.

Năm 2012, ông lại có bất ngờ dành cho độc giả. Nhà văn cho ra đời cuốn tiểu thuyết:"Gã dở hơi", với độ dày khoảng 300 trang. Ban đầu, cuốn tiểu thuyết có tên là "Kẻ chạy trốn". Thú thực tôi thích cái tên này hơn là "Gã dở hơi". Nhưng Lê Lựu bảo: "Chú Ngân đúng là kẻ dở hơi thật" (nhà văn luôn gọi nhân vật của mình thân thiết như một người em có thật ngoài đời).

Không giống như hai cuốn tiểu thuyết "Thời loạn" và "Ở quê ngày ấy", "Gã dở hơi" hấp dẫn tôi ngay từ những dòng đầu tiên, tôi hết sức bàng hoàng khi bắt gặp lại giọng văn đúng chất Lê Lựu, giọng văn mà ở thời kỳ ông sung mãn nhất. Có thể nói "Gã dở hơi" là cuốn tiểu thuyết không thua kém gì những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của Nhà văn Lê Lựu trước đó. Ông bảo, đây là bản thảo ông viết từ lâu nhưng vì nhiều lý do nên nó bị vứt trong góc tủ một thời gian khá dài, cũng có lúc định bỏ nó đi nhưng ông lại day dứt như việc mình nhẫn tâm vứt bỏ một đứa con chưa thành hình. Đến giờ có thời gian mới đem ra chỉnh sửa lại thành một tác phẩm hoàn chỉnh

                                                                                                                                                Trần Hoài Nguyên

Bạn thơ và người tri kỷ

nguyentinh | 13 May, 2012 19:11

Bạn thơ và người anh tri kỷ

Năm 1971, tôi và Nguyễn Duy (tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ) vào học cùng lớp K16 của khoa Văn - Đại học Tổng hợp. Lúc ấy, anh là bộ đội thông tin đi học, hiền lành chân chất lắm, giọng nói xuýt xoa thành khẩn chứ không mấy khi cay nghiệt, hài hước và ngổ ngáo như sau này.

Một lần, sau khi tan học, anh bảo tôi: “Lúc nào đến chỗ mình chơi. Mình thấy Tuấn có nhiều cái giống mình”. Tôi xúc động. Và có lẽ từ câu nói ấy, chúng tôi đến với nhau. Hôm sau, hai anh em bỏ cả giờ học văn học dân gian ngồi trên xà kép dưới sân tâm sự về thơ ca và cuộc sống. Nguyễn Duy thủ thỉ: “Bị hắt hủi, mình vẫn không hoang mang và vẫn tiếp tục con đường mình đã chọn.

 

Phải có bản lĩnh và lòng tin Tuấn ạ! Mình nghĩ rằng họ không chấp nhận thơ mình vì họ chưa hiểu, nhưng rồi họ sẽ hiểu. Phải viết cái của riêng mình”. Khi ra về, Nguyễn Duy thủ thỉ dặn tôi, đằm thắm và mộc mạc: “Những điều tớ kể với Tuấn chỉ riêng Tuấn biết thôi. Tớ cấm đấy! Tuấn cứ nói lại với ai là tớ giận lắm đấy”.

 

Mấy hôm sau, tôi đến nhà anh chơi, nghe Nguyễn Duy kể chuyện thủ thỉ suốt đêm. Những ngày ở Trường Sơn, có lần anh thức trắng đêm trong hầm cùng với một cô thanh niên xung phong. Nửa đêm, cô gái nhoài sang ôm lấy anh, còn nhà thơ của chúng ta có lẽ bị Paven Coccsaghin lườm nguýt nên suốt đêm nằm bất động như khúc gỗ. Anh thương cô gái, không dám động tĩnh gì.

 

Rồi sau đó cứ tiếc mãi, ân hận mãi. Nguyễn Duy còn đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ viết tặng một người yêu tưởng tượng người Hoa, thơ gửi bạn đi nước ngoài và nhật ký ở rừng. Anh thẫn thờ kể lại chuyện bị đánh mất hơn 500 đoạn thơ như thế, rồi thốt lên: “Tiếc quá!”. Sau đó anh lặng đi, mắt anh như rưng rưng làm tôi sờ sợ…

 

Sau đó là những ngày anh gặp Hoài Thanh để chuẩn bị giới thiệu trang thơ Nguyễn Duy. Anh kể cho tôi nghe từng cuộc gặp, từng diễn biến, từng câu nói và cùng tôi sóng xoài trên bãi cỏ sửa từng câu thơ trong các bài Tre xanh, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm… cho số báo giới thiệu thơ anh.

 

Tôi mong ngày báo ra, đạp xe đi 12km mua được tờ Văn nghệ có trang thơ Nguyễn Duy tung tăng mang đến lớp, đi các phòng khoe… Năm 1972, Nguyễn Duy bị kiểm điểm và bị an ninh quân đội “quay” về tội “Chủ nghĩa nhân đạo chung chung” (chữ của Hà Xuân Trường viết trên báo Nhân dân) vì anh đọc bài thơ Đứng lại và Thơ tặng người ăn mày... ở khoa Văn ĐH Tổng hợp và Sư phạm.

 

Nhưng ngay sau đó, anh được giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1973, rồi in tập thơ Cát trắng, mọi người mừng lắm. Coi như thoát nạn! Anh tổ chức một bữa cơm mời GS. Lê Đình Kỵ, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà văn Đỗ Chu đến gặp gỡ chia vui. Tôi cũng được anh mời đến. Đó là lần đầu tiên tôi được ngồi cùng mâm với những văn nhân hàng đầu của Việt Nam.

Người đóng thuế thơ nhiều nhất nước

Năm 1975, Nguyễn Duy vào TP. Hồ Chí Minh làm báo Văn nghệ giải phóng. Để có thể nuôi vợ con và nuôi thơ ở cái thành phố giàu có và sôi động ấy, Nguyễn Duy đã làm đủ mọi nghề dân dã nhất. Nấu rượu để bán và lấy bã nuôi hai con lợn trong toilet của căn hộ 24m trên tầng 4, Nguyễn Duy tự trào “Tớ là người nâng con lợn lên tầm cao thời đại”.

 

Nuôi lợn mấy năm cũng thấy phiền toái mà thu nhập chẳng là bao, Nguyễn Duy lại tính chuyển sang nghề đạp xích lô. Nhưng mấy đêm đi tập, thấy các bến xích lô đêm đa phần chở chị em bán hoa, Nguyễn Duy vội bỏ ngay cái ý tưởng làm thảo dân với cặp giò thi sĩ. “Nghèo thì nghèo thật, nhưng cũng có cái danh rồi. Bây giờ đi chở mấy cô gái điếm, thành nhân vật “người ngựa, ngựa người” trong chuyện Nguyễn Công Hoan, thiên hạ biết thì ê mặt!”.

 

Năm 1985, chuyển sang  Lê Văn Sỹ ở trong căn hộ gác 3 rộng gấp đôi căn  hộ cũ, Nguyễn Duy xoay sang bán tiết canh vịt. Khách đến đông nườm nượp. Thu nhập cao hơn nuôi lợn nhiều, nhưng phục vụ cánh bợm nhậu nhiều khi còn mệt hơn nuôi lợn nên được một năm anh lại dẹp và tìm cách xoay xở sống bằng ngòi bút. Không ngờ đây chính là bước chuyển từ giai đoạn thi nhân “chăn lợn nuôi thơ” sang giai đoạn “thơ nuôi thi sĩ”.

 

Khi viết lời hát chèo cho vở múa đương đại của Ea Sola, năm 1995, lần đầu tiên trong đời Nguyễn Duy nhận nhuận bút được một lúc 2.000 đôla! “Thằng nào làm thơ nhận được hai ngàn đô một lúc lúc đó? Một lúc chứ không phải nhiều lần nhé!” - Nguyễn Duy không giấu niềm tự hào pha chút ngạc nhiên. Hóa ra, viết thơ cho mấy bà nuôi lợn ở nhà quê đi trình diễn múa đương đại lại được nhiều tiền hơn gấp bội khi bắt chước các bà tự tay nuôi lợn.

 

Nhưng nếu không có những tháng năm bươn chải như thảo dân, nhà thơ Nguyễn Duy không thể tích hợp vào thơ cái tươi rói của bụi đời, cái trí tuệ của đường phố, cái bản lĩnh xoa đầu vua chúa của những anh hề và cái hào sảng của bậc trượng phu, đau đớn thét lên mong đánh thức những tiềm lực của Tổ quốc...

 

Và Nguyễn Duy mày mò tìm cách đánh thức “tiềm lực kinh tế” trong thơ. Năm 1998, sau “Triển lãm thơ Nguyễn Duy” nổi đình đám, nảy ra ý tưởng làm lịch thơ, anh dùng bút lông viết thơ mình lên những bức ảnh chụp vật dụng nhà quê như nơm, giỏ, quang gánh, thúng mủng… Không ngờ Công ty Quảng cáo Trẻ thích quá, bỏ ra mấy chục triệu mua trọn gói cả “phi vụ” lịch thơ.

 

Mấy chục triệu hồi ấy to lắm, mua được nhiều cây vàng ấy chứ! Thế là suốt mười năm, năm nào anh cũng sản xuất một cuốn lịch thơ Nguyễn Duy, xoay đảo biến thiên các kiểu. “Tôi đóng mỗi năm 40 triệu tiền thuế cho thơ. Không có anh nhà thơ Việt Nam nào đóng thuế thơ nhiều như tôi. Mười năm tôi đóng thuế thơ tới gần nửa tỷ”. Nguyễn Duy nói và cười vang, vừa hãnh diện vừa hài hước.

Người hòa giải dân tộc bằng thơ

“Tớ sống bằng thơ, rồi đi Đông đi Tây cũng bằng thơ!”, Nguyễn Duy bộc bạch. Có lẽ cái chức phận nặng nề ấy của thơ còn lớn lao hơn cả Giải thưởng lớn về thơ năm 2010 mà Viện Hàn lâm Quốc tế “Mihai Eminescu” Craiova (Rumani) vừa trao cho anh.

Năm  1995, Nguyễn Duy sang Mỹ lần đầu theo chương trình giao lưu của trung tâm William Joiner và trở thành nhà thơ Việt cộng đầu tiên đến Wesminter - thủ phủ chống cộng, rồi lang thang ở các thành phố bang California suốt cả tháng trời, nhậu nhẹt và đọc thơ với anh em văn nghệ sĩ gốc Việt, có nhiều người thuộc quân đội Việt Nam cộng hoà ngày trước. Thơ ca đã nối kết những con người Việt, Mỹ từng ở hai chiến tuyến để họ đồng hành đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam.

 

Cái sức mạnh xóa bỏ hận thù ấy của thơ đã được hiển thị, được nhân lên khi Nguyễn Duy cùng hai nhà thơ Mỹ Naomi Shihab Nye và Bruce Weigl đọc thơ trước hơn 300 thính giả trong Vườn thơ ở cao ốc Lannan Foundation, Los Angeles. Hai nhà thơ Mỹ mỗi người đọc nhiều bài. Nguyễn Duy chỉ đọc hai bài trong đó có bài thơ Bắn ca ngợi phép lạ yêu thương vĩnh cửu của thi ca.

 

Theo lời nhà văn Vũ Huy Quang kể lại (bài đăng trên báo Diễn đàn Paris, tháng 9/1995) thì hai bài thơ ngắn của Nguyễn Duy đã trở thành cái đinh của vườn thơ, được người nghe vỗ tay lâu ơi là lâu rồi ùa đến bắt tay Nguyễn Duy nói “Rất cảm động”, rồi “Cám ơn”. Có một phụ nữ đợi mãi đến phút chót để bắt ông dịch từng lời cho Duy.

 

Câu ấy thế này: “Tôi xin cảm ơn ông. Chúng tôi nợ ông một lời xin lỗi. Các ông đã dạy cho chúng tôi thế nào là lòng can đảm. Đất nước các ông đã bị bom đạn chúng tôi tàn phá. Nay nhờ những người như ông mà người Mỹ có thể ngẩng mặt lên được… sau lời xin lỗi như thế này”. Mắt bà đỏ hoe, mắt Nguyễn Duy và Vũ Huy Quang cũng đỏ hoe.

Vườn thơ ở Los Angeles hôm ấy hội tụ đủ cả ba nhân vật của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Một cựu chiến binh cộng sản là Nguyễn Duy, một đại úy Việt Nam cộng hòa là Vũ Huy Quang, một cựu binh Mỹ là Bruce Weigl.

Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân, thi sĩ của hòa bình, thi sĩ của yêu thương.   

                                                                                                                                                                           Đỗ Minh Tuấn

 

Trò chuyện cùng Nhà văn Nguyễn Quang Sáng

nguyentinh | 13 May, 2012 19:06

Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Bây giờ thì dù sống ở đâu đều có thể nói lên cái dở ở xứ mình mà không tự ái vùng miền hay "vạch áo cho người xem lưng".

Năm ngoái, nhà văn Nam Bộ Nguyễn Quang Sáng viết về gái miền Tây. Gặp ông, ông bảo: "Viết xong rồi, nhưng nó... đang ở trong đầu! Tôi viết nhanh lắm. Với "Cánh đồng hoang" tôi đưa bà xã đi đẻ ở Từ Dũ, về viết trong một tuần. "Chiếc lược ngà" viết một buổi sáng, kê ván trên ghe, giữa sông nước mênh mông".

Nhiều người nói ông Sáng chơi không mà vẫn có sách. Ông toàn viết tay, vì nhìn cái máy vi tính không còn hứng. Giấy trắng, cái bút, nó thật, viết tức là chép ra cái đã nghĩ. Uống rượu cũng nghĩ, đi xe cũng nghĩ...

Nguyễn Quang Sáng đi khắp Nam Bộ, là do ông được một công ty mời làm khách trong chương trình tài trợ cho miền Tây 100 cầu bêtông "chứ không thì tiền đâu đi cho hết mọi nẻo, mọi giồng", Ông bảo buồn nhất là những nơi nghèo ấy, xưa là căn cứ cách mạng.

Một ông Hà Nội trong đoàn phát hiện không thấy bóng chiếc áo bà ba nữa. Khăn rằn mất tiệt. Mấy bà già nói móc: Nhiều lắm, trên tivi thiếu gì. Có nhà báo hỏi miền Tây của ông ngày xưa như thế nào, đi xa ông nhớ gì nhất? Ông đáp: "Đó là vẻ đẹp hoang sơ của kênh rạch và bến nước nhà nào cũng có dưới bóng cây dừa, cũng có cái xuồng lúc lắc, có chiếc gáo dừa trên cây cột để múc nước tắm, xưa còn để uống. Chiến tranh bom đạn tơi bời, nhưng bến nước hồn làng không thể mất". "Bây giờ đô thị hóa, ông có tiếc cảnh cũ không?".

Nguyễn Quang Sáng bảo: "Đồng Tháp Mười vẫn mùa nước nổi mênh mông như tôi tả trong "Cánh đồng hoang". Đô thị hóa chưa nhiều, nhưng cách sống đô thị thì tràn ngập. Bi kịch là chỗ đó. Trụ sở cơ quan rất sang, trưng cây kiểng tiền triệu... nhưng tiếc thì cứ tiếc, mà hiện đại vẫn phải hiện đại. Nhưng kẹt là y tế, giáo dục chưa lên. Mừng thấy trẻ đi học, nhưng hết lớp 3, 4 là nhiều đứa nghỉ".

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ đã từng sống ở Hà Nội nhiều năm, cho nên "Hà Nội phải nhớ chớ. Phong cảnh thì đẹp quá rồi, khỏi nói". Ông mê đậu phụ Mơ chấm mắm tôm. Khi vào quán sang trọng, ông vẫn kêu đậu phụ Mơ. Ông khen phở Hà Nội ngon, nhưng dở là "Kêu ít bánh nhé, vâng. Cho ít bột ngọt thôi, cũng vâng. Nhưng không làm. Vẫn bát phở y nguyên, làm theo thói quen".

Khi trò chuyện văn chương, ông ghét nhất là ai nói văn chương ngày nay không có tầm cỡ thời đại, vì "biết thế nào là tầm cỡ". Cuộc sống chuyển biến quá nhanh. Trong khi viết văn là hình ảnh đọng trong lòng, phải lâu mới được. Lại có nỗi khổ là nhà văn không thể sống bằng văn chương, phải làm nhiều nghề để sống là thiếu tập trung. Viết văn không tập trung là thua.

Vào dịp tháng tư năm nay, ông vẫn còn phải viết nốt những truyện cuối cùng về nỗi đau gái miền Tây rời bỏ quê hương lên thành thị, xếp hàng xuống tàu, đò bỏ xứ, đông hàng "binh đoàn". Nhưng "có hai việc nó đè mình", đó là ông phải hoàn thành kịch bản 30 tập phim về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và là chủ biên Tạp chí 100 năm bóng đá Việt Nam.

Nhà văn tuổi Tân Mùi, năm nay 82 tuổi, mà không ai "đếm xỉa" đến tuổi già của ông, cứ mời vào việc . Theo ông, người ta mời, mình nói không hoài thì buồn chết cha. Mấy ông lãnh đạo chính trị về hưu chả biết nghề gì, rảnh rỗi đi lang thang, còn mình, sáng đọc báo xong, càphê xong là viết.

"Đời nhà văn sống có gì vui?". "Phải vui vui buồn buồn chứ vui hoài sao được. Tôi có một trách nhiệm phải đi nghe nhạc đều đặn, mà ca nhạc nó tập trung quận 3, phải chạy sang đó. Mình ở quận 7, môi trường trong lành thích, kẹt nỗi bạn bè toàn ở quận 1, quận 3. Phải chạy sang đó. Mà đi taxi, tốn kém". Tiền ông không thiếu, nhưng không dư, con cho thì tùy, không yêu cầu, mình vẫn làm ra. Lương hưu 5 triệu đồng, kiếm thêm mỗi tháng 10 triệu đồng là đủ xài.

Phim "Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt" người ta mời ông viết kịch bản vì "hiếm người biết ông Kiệt nhiều như anh". Thủ tướng biết nhà văn hay uống rượu nên hay mời đến nhậu chơi, nói chuyện, khi nhà văn ở miền Nam ra, Thủ tướng hay tin là cho xe đến rước.

Nguyễn Quang Sáng bảo, trong phim, ông thích nhất đoạn "Ông Kiệt "cãi lệnh" T.Ư khi miền Nam bị o ép khủng bố trước khi có Nghị quyết 15. Lúc làm Chính ủy khu 9, ông Kiệt đánh, nó mới mở ra. "Có mấy chi tiết cực hay": Có thời kỳ thiếu thốn, hết tiền, phải giải tán đoàn văn công. Ông Kiệt về là ra lệnh lập lại văn công ngay.

Theo ông Kiệt, thì "một nhà chính trị nói ai nghe, còn văn công sáng đèn một cái là dân đến ào ào". Đúng như ông nói, đêm văn công biểu diễn, dân lội suối chèo ghe ào ào đến xem.

Theo ông Kiệt, dân ca, ca dao Việt Nam có tất cả triết học trong đó. Bạn ông có con đi nước ngoài, ông hài lòng thấy bạn chuẩn bị hành trang cho con không quên hai thứ quan trọng là tập ca dao tục ngữ (giúp tìm cách giải mọi vấn đề trong cuộc sống) và tập Truyện Kiều (để không quên ngôn ngữ Việt Nam).

Nhà văn sống ở miền Nam, nếu có năng lực và chịu khó làm việc thì không bao giờ ở không. Mà ở xứ này nó vậy, chấp nhận một cách hào phóng, trong vất vả vẫn tìm ra cánh cửa mở. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng khoe ông đã mua một mảnh đất ở Cần Thơ cho con cháu thoát Sài Gòn về đó chơi.

Có người hỏi ông: Như vậy có phải văn nghệ sĩ ở miền Nam, ở Sài Gòn dễ sống hơn miền Bắc, Hà Nội. Ông bảo khó so sánh, nhưng "Nói thế là không đúng. Tôi biết nhiều bạn bè ở Hà Nội giàu bằng nghề tay trái. Văn nghệ sĩ ở miền nào cũng có người rất giàu, người trung bình và luôn có những người nghèo chết cha".

                                                                                                                                                 Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải

( chép lại bài này để bạn đọc)

Nguyễn Khắc Trường

nguyentinh | 03 May, 2012 15:48

NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG Ở VỚI MA, SỐNG VỚI NGƯỜI

 

 

 

 

 

       TẠ DUY ANH

Từ khi còn chưa bén mảng đến cửa văn đàn, tôi đã quen với cái tên Thao Trường. Trong một tác phẩm của ông hình như có tên là Miền đất mặt trời, tôi còn rất thích cái giọng tếu táo đậm đặc chất dân dã của ông. Ông có lối ví von rất hóm và rất…đĩ! Nhưng ấn tượng của tôi về ông hồi đó chỉ như vậy. Cái tên Thao Trường có vẻ không phải là tên của một nhà văn tầm cỡ, ít ra cũng thuộc loại khiến người ta phải chú ý. Nó quá nhẹ và nhạt, thiếu năng lượng, thiếu sự bí ẩn. Một nhà văn có khả năng thành quan trọng hay không thường báo hiệu trước hết ở cái tên. 

Rất cảm tính nhưng phần lớn lại đúng, thế mới lạ. Nguyễn Khắc Trường cũng hoàn toàn đồng ý với điều đó khi có lần thổ lộ là ông ‘mất toi nửa đời cầm bút’ vì cái tên không phải dành cho mình. Rồi vỗ đùi cười hố hố rất đắc chí. Trên thực tế cái tên Thao Trường còn báo hại tác giả “Mảnh đất lắm người nhiều ma nhiều” hơn thế. Suốt hàng năm trời, khi tiểu thuyết nổi tiếng của ông đã có mặt trên sạp sách, vẫn còn không ít người cười nửa miệng hoài nghi. Giờ thì ông đã xoá được cái hạn ‘do nông nổi’ đó-sau gần hai mươi năm.

Giữa Nguyễn Khắc Trường và tôi có một mối nhân duyên mà ông không nhớ. Khi còn ở quân đội đóng tại thị xã Lào Cai, tôi có gửi về Tạp chí Văn nghệ quân đội một truyện ngắn (mà tôi không nhớ tên mình đặt) viết về lính tráng. Một anh bộ đội biên giới tranh thủ thời gian công tác muốn về thăm gia đình nhưng anh đứng ở ngã ba thị trấn trung du vẫy xe suốt buổi chiều không được. Chả ông tài xế nào động lòng. Cuối cùng khi trời đã tối, anh mới phát hiện ngoài anh ra có thêm một cô gái bán thuốc lá. Anh không biết là cô gái nấn ná ở lại chưa về cũng vì không nỡ bỏ anh lại một mình. Cuối cùng họ làm quen và anh đồng ý nghỉ tạm tại nhà cô gái mà ngoài cô ra có thêm đứa em trai, theo lời mời của cô. Đêm ấy cả anh và cô chủ nhà đều không ngủ. Họ nghĩ về nhau, về ánh trăng vàng óng bên ngoài cửa sổ và thấy đều cô đơn, cần có nhau…

Đại loại truyện có nội dung như vậy, với âm hưởng ca ngợi vẻ đẹp của anh bộ đội và tình quân dân. Đúng khi tôi nghĩ nó đã vào sọt rác thì nhận được thư của Văn nghệ quân đội, ký tên Thao Trường, biên tập viên văn xuôi. Ông chúc mừng tôi là truyện có nội dung tốt. Ông đổi tên truyện thành “Dọc đường”, chữa qua vài chi tiết và sẽ cho đăng trên tạp chí. Tôi nhớ không lầm thì đó vào khoảng năm 1986. Tôi đã giữ lá thư đó của Thao Trường-lá thư đầu tiên mà tôi nhận được từ một nhà văn trung ương-mãi cho tới khi ra khỏi quân đội và bị thất lạc đâu mất. Khi truyện được đăng, anh em trong đơn vị nhìn tôi rất nể. Với họ, được đăng truyện ở Tạp chí Văn nghệ quân đội phải có đẳng cấp, không còn là vớ vẩn nữa! Tôi được hưởng sái sẩm khá nhiều từ cái truyện có tên rất sái đó! Bởi đúng như thi hào Nguyễn Du đã viết: Kể chi những chuyện dọc đường, tác phẩm đó của tôi không để lại tăm dạng gì.

Đã thế một chị bạn nhà thơ, sau mấy năm gặp lại tôi, cười cười bảo: ‘Ngần ấy năm anh đi lính xem ra cũng chả khá hơn tí nào so với lúc còn ở Hoà Bình. Truyện chán chết đi được’. Tôi đành chỉ im lặng. Biết làm thế nào được khi cái gì cũng phải đến số. Tôi nói vậy vì nó rất ám vào trường hợp của Nguyễn Khắc Trường. Có lẽ cái số ông phải đeo sự nhạt nhoà suốt hàng chục năm, trước khi trở thành một tên tuổi mà văn học sử sẽ còn phải nhắc tới.

Tôi nhớ hồi năm 1989, sau khi đã về học tại trường viết văn Nguyễn Du, một lần tôi được mời tụ tập uống bia cỏ với mấy nhà văn đàn anh. Nghe ai đó bảo Thao Trường sắp có tiểu thuyết và lấy lại tên cúng cơm là Nguyễn Khắc Trường, một anh bạn nhà thơ quân đội cười rất ‘hiểu biết’ nhưng cũng rất ‘đểu’, bảo: ‘Thao hay Khắc thì cũng vẫn chỉ là nước ốc thôi, hay thế chó nào được!’ Quả nhiên ông nhà thơ này sau đó không đọc ngay “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Phải vài tháng sau tôi mới thấy ông ta có bài viết khen Nguyễn Khắc Trường hết lời và nhân tiện bày tỏ nỗi ân hận vì đã trót coi thường cuốn sách chỉ vì cái tên cũ của tác giả! Mà nói đâu xa. Chính giáo sư Hoàng Ngọc Hiến cũng có ứng xử tương tự. Tức là cụ Hiến cũng bị ấn tượng bởi cái tên Thao Trường đến mức xuýt thì oan cho Nguyễn Khắc Trường!

Sau khi “Mảnh đất lắm người nhiều ma” được giải thưởng Hội nhà văn rồi trở thành hiện tượng văn học, tác giả của nó mới hoàn toàn thoát khỏi cái ‘dớp’ Thao Trường. Từ đó ông mới chính là ông. Nhưng từ khi chính là ông thì ngoài vẻ hồn hậu, mộc mạc, nông dân cố hữu, ông cũng nhiễm thêm một số bệnh của đám trí thức nổi tiếng. Thực ra đó là căn bệnh chung của nhà văn xứ ta. Cứ nổi tiếng là ăn nói như ông kễnh bằng thái độ xưng xưng rất đáng ghét! Nhưng với người khác có vẻ là chuyện bình thường, còn với Nguyễn Khắc Trường thì điều đó gây nên mối ‘nguy hiểm tiềm tàng’ cho bọn viết trẻ máu phá phách, vì ông có uy tín với mọi người. Mọi người tin vào thẩm định của ông, tự nguyện coi ông như người ‘cầm cân nảy mực’. Tác phẩm nào đó vào tay ông mà ông bảo ‘vứt’, sẽ không bao giờ có cơ hội được ông nghĩ lại! Ngay cả khi nó được dư luận nồng nhiệt tán thưởng, ông vẫn bảo lưu quan điểm một cách ngoan cố!

Nói khác đi, với ông không có sự nhầm lẫn để ân hận. Trên thực tế ông khen đúng nhiều hơn là chê. Nghĩa là tác phẩm nào đó được ông khen, hoàn toàn có thể tin nó hay. Nhưng với những tác phẩm bị ông chê thì chưa chắc đã dở. Chỉ có điều, khi đã chê là ông bỏ ngoài tai mọi lời bênh vực. Đó là nguyên nhân nhiều người có đầu óc cách tân tìm thấy lý do lánh xa ông. Mặt khác, ông tiếp tục đà hưng phấn của người thành danh để dạy bảo bọn trẻ và làm rộng thêm khoảng cách với những kẻ vừa nứt mắt, chưa học được bao nhiêu, còn thiếu thốn đủ đường nhưng lại thừa máu tự phụ-trong đó có tôi. Nhưng tôi không thích ông lại chủ yếu ở chuyện khác: Ông chơi với nhiều người mà tôi không ưa và hơn thế, ông lại luôn dễ dãi với họ! Nhiều người thuộc loại lưu manh một trăm phần trăm, lưu manh chuyên nghiệp nhưng Nguyễn Khắc Trường vẫn hồn nhiên tin họ là người tốt, chỉ vì họ khéo thủ vai. Đã vậy ông lại sẵn sàng tặng cho họ những phẩm chất mà có sống và tu thêm vài kiếp họ cũng không có. Đơn giản vì tính ông xuề xoà, ít khi nghĩ xấu về bạn bè. Ông là cậu bé vĩnh cửu với sự hồn nhiên, ngơ ngác, trong sáng…khi nhìn cuộc đời.

Đó thực ra cũng đáng là một nét tính cách quý giá. Nhưng tôi thì muốn mọi thứ phải rạch ròi, yêu ghét, trọng khinh rất rõ ràng và rứt khoát. Đành rằng sống là phải bao dung. Nhưng kẻ nào tầm thường thì họ chỉ nên được hưởng sự chiếu cố vừa phải. Có lẽ do quá tự tin mà Nguyễn Khắc Trường thành cả tin! Ông cực kỳ dễ tin người. Có ông quan văn nghệ rất thâm hiểm nhưng khéo đóng kịch, đã qua mắt được Nguyễn Khắc Trường suốt mấy chục năm. Có những lời nói dối một trăm phần trăm, nhưng nó được uốn éo thế nào đó, lại khiến ông tin là thật. Và ông giữ niềm tin ấy rất lâu nếu không muốn nói là suốt đời. Ông trở thành người kể tốt không công, bền bỉ và vô tư cho khối kẻ chả ra gì. Chỉ khi có bằng chứng rõ ràng về sự đểu giả trực tiếp tác động đến ông, hoặc đến người mà ông quan tâm, ông mới thôi không tin nữa. Không tin nhưng vẫn chơi và chỉ chờ cơ hội để chứng tỏ mình nhận định sai.

Hàng chục năm trời ông không ưa tôi và biết là tôi cũng không ưa ông, không thực sự tâm phục khẩu phục ông. Trong những lý do đã kể, còn có thêm lý do là ông nghĩ tôi hay làm to chuyện liên quan đến vấn đề xuất bản sách của mình. Rồi số phận lại xô đẩy thế nào để ông và tôi cùng làm việc với nhau ngày ngày. Khi làm xuất bản, Nguyễn Khắc Trường dần dần thừa nhận nhiều thực tế mà ông không biết nhưng lại cứ làm như mình biết hết. Lần đầu tiên Nguyễn Khắc Trường trực tiếp chứng kiến cảnh Lão Khổ bị ngăn cản tái bản để ông thấy tôi không hề làm nghiêm trọng hóa vấn đề.

Và ông quyết định ra tay giúp tôi. Sau sự việc đó, Nguyễn Khắc Trường và tôi có thêm mối thân tình tự nhiên. Nhưng có lẽ chúng tôi thực sự gắn bó với nhau do bắt đầu nhận ra ở nhau nhiều nét tương hợp. Đầu tiên tôi nhận ra ở ông một sự chân thành rất hiếm và rất quý trong thời buổi bây giờ.

Hầu như ông không biết nói dối. Mọi suy nghĩ của ông đều được thổ lộ bằng thứ giọng nói cho cả tổng nghe rõ. Ngồi đàm thoại với ông phải tránh đi những chuyện bí mật riêng tư, nếu không muốn xung quanh nghe thấy. Với vấn đề nào đó ông tin mình đúng, ông thường đưa ra những kết luận chắc như đinh và vỗ đùi cười sảng khoái, thây kệ người khác nghe rất tức. Sau đó ông mỉm cười nghe cãi lại và nếu anh cãi hay thì lại khiến ông vỗ đùi tán thưởng rầm rầm nhưng nhất định không thay đổi quan điểm. Vì ngay thẳng nên ông không e ngại bị hiểu lầm, ngay cả khi ông nói sai bét vấn đề.

Bề ngoài ồn ào, thô mộc như vậy nhưng chớ ai nghĩ ông sốc nổi. Ông là người nhiều ưu tư, luôn sẵn mối quan tâm thường trực, nhất là trước những vấn đề tiêu cực ảnh hưởng tới xã hội. Khi đó nét mặt ông trở nên trầm buồn, chán nản và có phần thất vọng. Cũng khi đó tính cách khí khái, ngang tàng của ông được thể hiện rõ ràng nhất. Nó khác hẳn với một Nguyễn Khắc Trường khề khà, dễ dãi khi nhận lời đi đánh chén thịt chó, dùng tay bốc bải một cách tự nhiên rất thô nhưng cũng rất ngon mắt! Mặt ông rạng rỡ trước những miếng thịt bóng nhoáng mỡ. Với ông, trên đời này chỉ có hai món thuộc hàng cao lương mỹ vị, ấy là thịt chó lá mơ kèm mắm tôm và thịt lợn cắp nách chấm hạt dổi. Mà phải là thịt nửa nạc nửa mỡ, có dính bì thui rơm. Còn hai thứ đó tức là cuộc đời này còn đáng sống để làm việc hết mình và tận hưởng!

Có Nguyễn Khắc Trường về, giám đốc giao cho ông phó phần văn xuôi trong nước, cũng là phần khó gặm nhất. Ông tận dụng triệt để cái uy của mình để bênh vực những tác phẩm thuộc loại ‘có vấn đề’. Khi bị cấp trên căn vặn, ông tỏ ra điềm tĩnh hơn cả mức cần thiết. Đôi khi câu trả lời của ông chỉ là: ‘Không có vấn đề gì, tôi đọc kỹ rồi, hoàn toàn yên tâm’, bằng ngữ điệu của một ông nông dân biết rõ từng thửa ruộng. Nguyễn Khắc Trường có khả năng nhớ hầu hết tên tuổi cũng như tác phẩm của những nhà văn đàn anh và lớp cùng thời. Ai có tác phẩm nào đáng nhớ, ai đang ở đâu, làm gì, tử tế hay không, đang viết gì, mới in gì, con cái ra sao, phát ngôn nào ấn tượng, nếu tuyển chọn thì lấy tác phẩm nào…ông đều nhớ và có thể nói vanh vách. Vì thế nếu phải làm tuyển mà có ông thì rất nhàn.

Sở dĩ có được điều đó vì Nguyễn Khắc Trường đã đọc của ai thì đọc rất kỹ, rất cẩn thận, có nhận xét, thậm chí nhớ cả những tình tiết đặc sắc và nhớ rất dai. Trong công việc duyệt tác phẩm cũng thế. Nhiều bản thảo biên tập đọc qua loa, nhưng đến ông thì nó được xăm soi từng từ, chữa cả dấu chấm, phảy theo ngữ pháp mà ông ưa thích. Ông là người công bằng khi đối xử với bản thảo và tác giả, đành rằng không tránh khỏi có lúc rất cảm tính và nhiều khi gây sốc. Nhưng nó đều có chung điểm xuất phát là rất chân thành và thẳng thắn. Ông không bao giờ nghĩ thế này lại nói thế khác, kể cả nói ra những điều không thật thuyết phục.

Khi đã đặt bút ký duyệt in, Nguyễn Khắc Trường cũng sẵn sàng chịu trách nhiệm đến cùng mà không đổ lỗi cho ai. Ông sẵn sàng đối chất với các cấp quản lý để bảo vệ tác phẩm và tác giả. Thậm chí, thay vì nói chung chung để xí xoá như cách quen thuộc, Nguyễn Khắc Trường lại dùng những lời lẽ mạnh hơn mức cần thiết để khẳng định là ông đúng, tác giả đúng, việc cuốn sách ra đời là đúng. Khi đó mới thấy cái uy của sự chân thành. Phải là người có trách nhiệm với nghề, với bạn đọc và với đồng nghiệp mới có thể làm như vậy. Bởi vì, để có một ấn phẩm thực sự tốt đến tay bạn đọc, là cả một nghệ thuật leo dây của biên tập viên. Nhưng cho dù biên tập viên có giỏi đến mấy, bản lĩnh đến mấy cũng không phải là người quyết định cuối cùng số phận bản thảo nào đó. Chính vì thế có một lãnh đạo uy tín cao, có lương tâm nghề nghiệp và có bản lĩnh, là vô cùng quan trọng. Và trong gần 10 năm làm biên tập, tôi đã có một lãnh đạo xuất bản như vậy để cùng nhau làm việc, đó chính là nhà văn Nguyễn Khắc Trường.

Từ khi có Nguyễn Khắc Trường, thì ông và tôi luôn tìm cách ‘minh oan’ cho những tác giả và những tác phẩm bị thời cuộc hiểu lầm. Thực ra là chúng tôi chỉ đòi mọi người phải thực hiện nghiêm túc những gì hiến pháp quy định cho quyền được công bố tác phẩm của công dân. Hàng loạt tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Trần Bạt, Trần Đức Tiến, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Trọng Thắng…và hàng loạt tác phẩm một thời bị coi là có vấn đề như của Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương….đều phải nhờ đến Nguyễn Khắc Trường mới được tái bản. Không có Nguyễn Khắc trường trong khoảng gần 10 năm ở nhà xuất bản, thì uy tín của nhà xuất bản sẽ không bao giờ có được như hiện nay.

Nếu không nhờ Nguyễn Khắc Trường, ít nhất có hai chục cuốn sách làm vẻ vang cho Nhà xuất bản, vẻ vang cho Hội nhà văn trong đó có những cuốn sách làm thay đổi hình ảnh đất nước theo chiều hướng đẹp lên trong con mắt người ngoài, sẽ vĩnh viễn cứ chỉ là bản thảo hoặc quá lắm thì lang thang trên mạng với sự tiếp nhận không trọn vẹn, không thể hiệu quả như họ đã đọc trên bản in với danh nghĩa Nhà xuất bản hội nhà văn.

Không ít lần, vì nhiều chuyện mà tôi thấy mệt mỏi, chỉ muốn bỏ cuộc nếu không có sự trợ sức mạnh mẽ từ Nguyễn Khắc Trường. Mà ông chả cần nói gì nhiều. Ông chỉ cần ngồi sờ cằm, gật gù, ề à, miệng mủm mỉm hoặc vỗ đùi cười ngất ngú…đã đủ khiến người khác an lòng. Nếu lại rủ được ông đi thịt chó lá mơ thì kể như mọi bức bách được giải toả. Ông có cái uy của một nhà văn nổi tiếng, điều đó khỏi phải bàn. Nhưng Nguyễn Khắc Trường còn có cái uy của một người không bao giờ lèo lá mà chỉ biết nói thẳng. Rất ít người sống thẳng thắn như ông mà không bị nhiều người khác ghét bỏ. Họ ngại ông, bị ông át vía nhưng lại thích gần gụi để nghe ông nói và cười một cách hào sảng, hào sảng theo kiểu của anh nông dân dư dật, hơi tự mãn nhưng tốt bụng.

Nguyễn Khắc Trường cũng là người có nguyên tắc sống đáng nể. Ông rất biết mình là ai, có thể làm gì. Mặc dù có nhiều điều bất mãn với thời cuộc, như bất cứ ai yêu cái cuộc đời này, nhưng ông chấp nhận luật của cuộc chơi rất sòng phẳng và nghiêm túc. Không chơi thì thôi, khỏi bàn. Đã chơi thì không phá bĩnh, không miệt thị theo kiểu hàng tôm hàng cá, không đánh lén, không ném đá giấu tay. Ông muốn mọi sự phải minh bạch. Ông là người có khả năng điều chỉnh rất giỏi gianh giới giữa kẻ nghệ sỹ tự do và con người của công việc vốn không thể hành xử chỉ vì cá nhân mình. Nhưng đó cũng lại là bi kịch lớn nhất của ông, thứ duy nhất ông không thể chia sẻ và rất ít người hiểu được.

Ông cũng là số ít người khiến cho tôi cảm thấy thiếu vắng khi không gặp ngày ngày sau khi ông về hưu. Sống một thời gian với Nguyễn Khắc Trường, tôi nhận ra, ông thuộc số không nhiều những người đàn ông đáng chơi nhất và khi đã chơi có thể hoàn toàn tin tưởng nếu cần phải nói ra bất cứ chuyện gì.

( in lại đê bạn tôi đọc)

 

a

Lý luận

nguyentinh | 03 May, 2012 15:46

Gơethe: Mọi thứ học thuyết đều màu xám sịt, mà cây đời luôn mãi xanh tươi

                 Lý luận

 Các Nhà Lý Luận ngồi rất đông

 Họp bàn tóc bạc rất ung dung

 Muốn viết Lý luận thay Nhân loại

 Kính công, Mũ áo...xem ra rất chuyên cần

 Ngày ngày miệt mài...suy tưởng rất cao siêu

 Nhân dân cần là cái bụng ấm

 Lòng được yên...ngủ không âu lo, buồn phiền

 Bom đạn, không nổ làm người chết

 Và tai nạn lúc không có chiến tranh đừng sảy ra

 

 Các nhà lý luận...

 Nhảy nhót, ngoáy mông- không thuộc của lý luận

 tham nhũng cũng không thuộc lý luận

 đề bạt không thuộc lý luận

 

 Thì ra từ xưa

 Lý luận luôn đứng ở bên ngoài

 

Liệt sĩ Hàm Rồng

nguyentinh | 17 April, 2012 08:17

13 Mạc Văn Khôi
1942
2/65 B2
Chiến Sỹ
C583 TT Đức Thắng - Hiệp Hoà - Hà Bắc 22/08/1965  




14 Đào Quang Cõn
1943
2/64 B1
Chiến sỹ
C583 Quang Trung - Tân Yên  - Hà Bắc 22/08/1965  




15 Thân Quang Uông
1941
2/65 B2
Chiến Sỹ
C583 Hồng Thái - Việt Yên - Hà Bắc 22/08/1965  




16 Trần Văn Vọng
1945
2/64 B1
Chiến sỹ
C583 Đại Tân - Quế Võ - Hà Bắc 22/08/1965  




17 Tạ Văn Hồng
1947
2/65 B2
Chiến Sỹ
C585 Quảng Minh - Việt Yên - Hà Bắc 31/08/1965  




18 Trịnh Hồng Vũ
1945
2/65 H1
Chiến sỹ
C585 Viĩnh Hồng - Vĩnh Lộc - Thanh Hoá 31/08/1965  




19 Hoàng Trọng Truật
1937
4/63 H1
Y tá
C581 Phú Hoà - Yên Phong - Hà Bắc 13/11/1965  




20 Trần Đình Xuyên
1941
4/63 B1
Chiến sỹ
C581 Tam Giang - Yên Phong - Hà Bắc 13/11/1965  




21 Dương Đức Lai
1946
2/64 B1
Chiến sỹ
C581 Hoà Bình - Tân Yên - Hà Bắc 13/11/1965  




22 Nguyễn Ngọc Kỳ
1946
2/64 H1
KĐ phó
C581 SN 64 - Thuần Lương - Tp Việt Trì - Phú Thọ 13/11/1965  




23 Vũ Văn Hồng
1947
5/65 B2
Chiến Sỹ
C581 Nghĩa Phú - Nghĩa Hưng Nam Hà 13/11/1965  




24 Đinh Ích Nhượng
1944
7/63 H2
KĐT
C581 Sn 22 - Ô Chợ Dừa – Hà Nội 06/04/1966  




25 Đỗ Huy Toại
1943
2/61 U0
Bt
C584 Thị Trấn Bố Hạ - Yên Thế - Hà Bắc 14/07/1966  




26 Ân Văn Phú
1941
2/64 H1
Chiến sỹ
C584 Mai Đình - Hiệp Hoà - Hà Bắc 18/08/1966  




27 Nguyễn Đức Hữu
1946
2/64 H1
Chiến sỹ
C2 Xuân Hương - Lạng Giang - Hà Bắc 07/09/1966  




28 Dương Xuân Lê
1938
5/65 B1
Chiến sỹ
C2 Yên Xá - Ý Yên - Nam Hà 07/09/1966  




29 Lê Như Bừng
1944
9/65 B2
Chiến Sỹ
C2 Thọ Xuyên - Thọ Xuân - Thanh Hoá 07/09/1966  




30 Nguyễn Ngọc Đàn
1944
4/63 H2
KĐT
C2 Tam Đa - Yên Phong - Hà Bắc 07/09/1966  




31 Đinh Văn Huyến
1940
2/65 B1
Chiến sỹ
C2 KP Hoà Bình - Việt trì - Phú Thọ 07/09/1966  




32 Vũ Quang Truung
1941
8/64 B1
Chiến sỹ
C2 24 Vệ AN - TX Bắc Ninh - Hà Bắc 07/09/1966  




33 Nguyễn Ngọc Bính
1935
3/53 U1
C.Phó
C2 Xuân Lộc - Hậu Lộc - Thanh Hoá 07/09/1966  




34 Trần Khắc Mạnh
1937
2/61 U0
Bt
C2 Hồng Lý - Lý Nhân - Nam Hà 07/09/1966  




35 Dương Đức Liễn
1938
4/62 U0
C.Phó
C2 Yên Lư - Yên Dũng - Hà Bắc  07/09/1966  




36 Thân Văn Lai
1944
2/65 H2
At
C6 Tiền Phong - Yên Dũng - Hà Bắc 05/09/1966  




37 Khổng Khắc Tạo
1947
2/65 B1
Chiến sỹ
C6 Tư Xá - Lâm Thao - Phú Thọ 05/09/1966  




38 Hà Trọng Vượng
1947
9/65 B1
Chiến sỹ
C2 Thọ Xuyên - Thọ Xuân - Thanh Hoá 12/09/1966  




39 Đỗ Văn Miện
1938
9/65 B1
Chiến sỹ
C2 Vọng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Tây 21/09/1966  




40 Võ Ngọc Bân
1948
9/65 B1
Chiến sỹ
C2 Thọ Xuyên - Thọ Xuân - Thanh Hoá 07/09/1966  




41 Trần Văn Hạt
1941
4/63 H2
KĐT
C2 Hoà Long - Yên Phong - Hà Bắc 21/09/1966  




42 Ngô Văn Kết
1944
2/64 B1
Chiến sỹ
C2 Song Vân - Tân Yên - Hà Bắc 21/09/1966  




43 Lê Công Năm
1944
2/65 B2
Chiến Sỹ
C2 Mai Đình - Hiệp Hoà - Hà Bắc 21/09/1966  




44 Phạm Chí Kĩch
1940
4/62 H3
BPhó
C2 Tư Mạng - Yên Dũng - Hà Bắc 21/09/1966  




45 Lê Chí Luyện
1941
9/65 B1
Chiến sỹ
C2 Thọ Nguyên - Thọ Xuân - Thanh Hoá 07/09/1966  




46 Ngô Văn Nhậm
1940
9/65 B1
Chiến sỹ
C5 Cao Vương - Thanh Oai - Hà Tây 22/09/1966  




47 Nguyễn Văn Hành
1937
2/66 B2
Chiến Sỹ
C16 Nam Tiến - Phú Xuyên - Hà Tây 23/09/1966  




48 Lã Văn Dũng
1933
5/65 B1
Chiến sỹ
C16 Thành Công - Duy Tiên - Nam Hà 23/09/1966  




49 Ngô Đắc Quyền
1943
7/63 H2
KĐT
C5 Tường Giang - Tiên Sơn - Hà Bắc 23/09/1966  




50 Vi Văn Tuyện
1944
2/64 H1
Chiến sỹ
C5 Phú Hoà - Tân Yên - Hà Bắc 21/09/1966  




51 Nguyễn Văn San
1948
9/65 B1
Chiến sỹ
C5 Bắc Lương - Thọ Xuân - Thanh Hoá 21/09/1966  




52 Trần Văn Phụ
1938
5/65 B1
Chiến sỹ
C5 Nghĩa Thắng - Nghĩa Hưng - Nam Hà 21/09/1966  




53 Ngô Minh Dũng
1943
8/64 B1
Chiến sỹ
C5 Đồng Mai - Thanh Oai - Hà Tây 21/09/1966  




Liệt sĩ Hàm Rồng

nguyentinh | 16 April, 2012 10:02


DANH SÁCH LIỆT SĨ TRUNG ĐOÀN 228 - SƯ ĐOÀN 365









Họ và tên
Năm sinh
Nhập
 ngũ
Cấp bậc;
chức vụ
Đơn
vị
Quê quán Ngày hy sinh Ghi chú

Nguyễn Ngọc Nho
1942
4/62 H2
At
C5 Chí Yên - Yên Dũng- Hà Bắc 27/05/1965  

Nguyễn Xuân Giác
1929
1/50 U2
CTV
C5 Gia Tường - Gia Viễn - Ninh Bình 27/06/1965  

Vũ Đình Hiền
1942
2/60 B1
Chiến sỹ
C5 Nghĩa Thắng-Nghĩa Hưng-Nam Hà 27/06/1965  

Dương Văn Phước
1945
2/64 B1
Chiến sỹ
C5 Liên Trung - Tân Yên - Hà Bắc 31/07/1965  

La Ngọc My
1944
2/64 B1
Thợ Hàn
HCần Việt Lập - Tân Yên - Hà Bắc

21/07/1965

 

Chúng tôi sẽ giới thiệu để mọi người biết.
 

Ước nguyện

nguyentinh | 16 April, 2012 08:28

Ước nguyện

  Điều mong ước của ta

  Hay của Người

   Làm sao gặp được người thân của mình trước khi nhắm mắt

   (Dẫu là người chết trẻ, chết già hay vì bom đạn trong chiến tranh)

   Dẫu vinh quang tột cùng, giàu sang đến đâu?

   Tiền làm ra hay tiền đi ăn cắp

   Cũng không khai ra ( dù tòa án lương tâm)

 

   Các học thuyết mà một đời cầu nguyện

   Cũng không mang theo được đến cùng

   Nếu có được

   nên cho mỗi người

   Một lần thấy và gặp được Ma

   Để trần trần gian này biết Người

   Là có thật?

Mỗi ngày

nguyentinh | 14 April, 2012 11:45

  Mỗi ngày cho ta một hy vọng

  Là lúc ta không bị bệnh tật dày vò

  Nói được điều gì, dù là tủn mủn

  Vượt thoát lên mình, tìm kiếm Tự do

 

  Nhưng mỗi ngày tràn nỗi lo âu, thất vọng

  Những thứ buồn chán mà ta bắt gặp

  Khuôn mặt lì lợm, méo mó cũ mòn

Cái xác khô không chịu lụi tàn

  Nhạt nhẽo

  Đua tranh, trì trệ

  Không ai quét bỏ đi được

  Xuất hiện hàng ngày

  Bao người đã gắng gỏi sống và hy vọng

  Tìm  an nhàn lúc tuổi già

  Bỗng giật mình nhận ra

  Sống không có gì là dễ

 

  Ta bòn rút sức lực của chính mình

  Làm người thi thố với chính mình

  Muốn vượt lên

nhưng quay đầu lại,

Bờ-vô- danh

  Như lúc bắt đầu đi tìm

  Mông muội?

  Dẫu sao mỗi ngày không chịu đầu hàng

 

Thời sự 2

nguyentinh | 13 April, 2012 08:07

   Triều Tiên "hát trên đồng hoa"

   Đói ăn, rách mặc nhưng mà chơi ngông

   Phóng tên lửa vụ- trụ như không

   Mặc cho Trung- Mỹ chạy vòng van xin

   Xin chán rồi lại dọa liền

   Tao cát lương thực than phiền với ai?

   Đào tạo lãnh tụ là tài

   Con cháu lêu lỗng, bạc bài vẫn lên

   Nhưng mà con hơn nước ta

   Đi làm cu- lít vẫn là lãnh tu

   Cũng không thể nói dân ngu

   Một vài chữ ký thì ù như chơi

   Biển mình mà hắn vẫn đòi

   Lại còn băt bớ như ròi đến đau

   Tên lửa mua rồi cất đâu?

   Bắn cho bỏ mẹ thằng tàu phải xin

   Nghèo như anh bạn Triều Tiên

   Nỗi khùng là sẽ đão điên như thường

Thời sự

nguyentinh | 11 April, 2012 15:43

 (Anh)Pu Tin trúng Tổng Thống rồi

 Nơi Nhà trắng thì thời đang tranh

  ( Tập) Cận Bình  đang ở Bắc Kinh

 Vừa thăm nước mình, giúp đỡ như xưa

  ( Hồ) Cẩm Đào vừa đến Pu Chia

  Cái nơi Pôn Pốt vẫn chìa tay ra

  Rằng ơn lắm bộ đội ta

  Hy sinh đánh đuổi cho xa Anh Tàu

  Bạc Hy Lai  ngã cũng đau

  Vào Bộ Chính trị  chác sau sang mình

  Bây giờ thì đã ngã kềnh

  Không khéo tù tội thì đành kêu ai?

  Chờ đến khi  sửa được sai

  Thì ngồi bóc lịch còn bài gì đâu?

  Biển Đồng, ai bảo của Tầu

  Mà hắn dậm dọa có đau không tròi?

  Sao mình không có họa tài

  Vẽ rồi đóng dấu còn sai nỗi gì

  Bây giờ mở cửa ra đi

  Mà chúng ngăn lại ta thì làm sao?

  Mấy ông xã luận để đâu

  Không mài ngòi bút còn lâu nó nhường

 

Bình luận về LÃO GIA 74 tuổi

nguyentinh | 11 April, 2012 15:12

  Gần người tài là phúc ở đời

  Ta và Lão Gia không quen biết mặt

  Nghe tiếng tăm của Lão mà khâm phục

  Tiền kiếm ra- Không tham nhũng thì tiêu đẹp mặt

  Ba mười phút làm thay đổi đời người

  Đứa con gái 19 thành cô gái bảy mươi

  Được mừng thọ cân nặng vui tựa vàng

  Tiền xeo cưới mà đem cân lên

  Một cân thịt Mai Mai giá vài trăm triệu

  Thương cho dân ta ít có người tài như Lão

  Đem cái ăn về cứu vớt chúng sinh

  Phật ở đâu...nếu không cứu được dân mình

  Nhà thờ... cung điện... cũng đành nơi  rửa tội

  cho kẻ rửa tiền thôi!

  Mai Mai của lão gia là vô giá

  "Cậu và mợ" của Lê Ân thật là có số

  Mở mắt ra thành tỉ phú mất rồi!

  15.000.000 tỉ mà Lão Gia để lại

  Hay cho VINASIM vay

  Hay cho DẦU KHÍ vay?

  Thuê vài chục ngàn  nhà thơ, vài chúc năm ngồi viết

  Rồi trao giải Lê Ân cho những lão Thợ Thơ, khéo tay!

Bình luận về Đại gia 74 lấy vợ 19 tuổi

nguyentinh | 10 April, 2012 14:13

  74 tuổi mà lấy đời vợ thứ 5

   Báo chí đưa tin hả hê và khâm phục

   Bỏ vợ thư tư 25 tuổi, cưới chưa đầy năm

   Lấy cô gái 19, xinh đẹp có học hành con nhà tử tế

   Mẹ vợ mới vừa 40 tuổi

( như tuổi cháu của đại gia )

   khâm phục một con người có tài

Vào tù ra tội làm nên danh vọng

   làm giàu ở đất nước mà con người chưa có tự do

Kinh tế thị trường

     đồng tiền vinh quang và tuỉ nhục

   mua bán sắc đẹp và nhân phẩm con người

   Con gái xứ mình được chăm sóc như đồ chơi

   đem gã bán cho xứ người rẻ mạt

   Hoa hậu và con hát

   làm hàng hóa cho người giàu cũng thế mà thôi

   Lão Đại Gia!

   có phải - LÀ DOANH NHÂN được người đời trọng vọng

   Không bị ai dè bĩu như lũ tham nhũng thấp hèn

   Bòn rút đất đai, buôn bán chức tước để có tiền

   Tranh vợ cướp chồng chém giết vô luân!

  Ông gác cửa cho Nhà Báo xướng ngôn

   Chuyện này nói được và, hay

   Có lẽ là thứ thuốc khuyến khích cho nhân dân làm giàu

   có tiền rồi lấy bao nhiêu vợ trẻ sợ gì đâu

   LÊ ÂN...Vua cũng phải nghiêng mình

   Cưỡi lên gái đẹp mà báo chí ca ngợi như thánh!

1 2 3 ... 43 44 45  Sau»