Đọc " KIẾP CẦM CA"

By Từ Nguyên Tĩnh

Đọc Kiếp cầm ca của Từ Nguyên Tĩnh

                                   Văn Đắc 

     Sau tập truyện Mối tình chàng Lung mù ra đời có tiếng tăm.  Từ Nguyên Tĩnh được kếp nạp Hội Nhà văn Việt Nam và là nhà văn được chú ý trên cả nước. Sau đó liên tục anh cho ra mắt bạn đọc Gã nhà quê (tập truyện ngắn 1993); Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết 1994); Không thành người lớn (tiểu thuyết 1996); Mùa yêu đương (tập truyện ngắn 1997); Người tình của cha (tập truyện ngắn 2000). Bây giờ là tập truyện ngắn Kiếp cầm ca (*). Chỉ nhìn qua tên các tác phẩm là có thể nhận ra nhà văn Từ Nguyên Tĩnh hướng ngòi bút về số phận đời người men theo lối đồng quê tình yêu và hạnh phúc. Tên truyện đã có ý mở cửa những trang sách cho ta bước vào cõi tiểu thuyết của anh. Nơi anh đã ký thác được rất nhiều quan điểm triết lý tư tưởng của mình.

Trong các tác phẩm của anh những năm trước đây ta đã gặp một số phận người lính đan chen xấu tốt trong cuộc chiến và những người lính vượt lên hoàn cảnh để hoàn thiện mình trong thử thách của đời sống thời bình. Ta gặp những nhân vật nông dân sống giản đơn và rất thật con người. Những thiện ác thật giả được nhận chân. Những giá trị đích thực được đánh giá cân lượng bằng con mắt trải nghiệm bằng ngòi bút khắc chạm và lối văn ít lời luận bàn.  Dường như nhà văn Từ Nguyên Tĩnh lấy chính chuyện những người trong gia đình mình làng quê mình và chính quãng đời của mình để cấu trúc tác phẩm theo mạch chuyện kể. Ví như: Cuộc đời trầm luân của người ca công ở La Đá Hạ. Tên cúng cơm là Đất trốn lính đi câu cá trộm bị bắt bán xuống Thanh Hóa làm thằng kéo xe. Đất có tài đàn nên được vua mời về Huế đàn trong cung đến nỗi công chúa phải mê. Rồi lại bị đẩy xuống chức phu mã (dọn chuồng ngựa) rồi lại bị đẩy vào lính sang tận  châu Phi dẹp loạn; từ châu Phi lại về Pa ri diễn trò... Còn ả đào Tuyết tuyết vốn là cô Beo quanh năm làm thuê đi ở có nước da trắng ngờn ngợn có bộ ngực như mùa thị chín như chiếc hộp vàng có giọng hát hay rồi thành cô đào được quan Tây đưa sang Pháp gặp lại Đất lằng nhằng với gã giữa chốn đô thị Pa ri trái tim của nước Mẹ. Hai người bị nhốt cũi đưa về dìm chết tại hồ La Đá Hạ.

Vẻn vẹn 16 trang in cỡ 13x19 mà truyện kéo dài cả cuộc đời nhân vật với tất cả những thăng trầm kết cục. Từ mối tình của hai người kiết xác có biệt tài truyện mở ra bộ mặt của xã hội quá khứ hiện tại lúc ở mặt hồ làng lúc ở trong cung vua   lúc dọc ngang ở mãi trời Tây. Lời văn ý tứ bay lượn đưa đẩy đan xen. Truyện vừa thật vừa ảo vừa dương thế vừa âm phủ. Đây là một truyện có mầu sắc ma quái của "Liêu trai chí dị". Tư tưởng triết lý của truyện hiện ra ở rất nhiều khía cạnh. Khía cạnh nào cũng gây ấn tượng và khơi gợi về kiếp người kiếp đào hoa.

Hầu hết các truyện đều theo mạch kể như vậy. Nhưng ám ảnh người đọc nhiều vẫn là Kiếp cầm ca Chuyện tình người gác lăng mộ Chim xa xa lại về. Những truyện như: Chuyện tình bên cầu Tào Cô gái Đò Lèn Chờ B52 Mối tình đầu v..v... Tạo ra một vệt truyện về chiến tranh đề tài quen thuộc của anh.  Cốt truyện đơn giản thật mà vẫn cảm động vẫn lộ ra những triết lý về đời người.

Với cách triển khai chuyện kể không theo kêt cấu đường thẳng mà xen kẽ thể hiện luận bình sẽ dễ làm cho người đọc mỏi mệt khó lĩnh hội nội dung. Truyện của Từ Nguyên Tĩnh đã vượt qua cái khó ấy. ở nhiều truyện anh tỏ ra dầy dặn vốn sống và thông tuệ sách vở vững tay xử lý các sự kiện chứng tỏ một nhà văn có nội lực mạnh và giàu có tri thức. Một thế mạnh nữa là: Từ Nguyên Tĩnh đã khơi dậy rất nhiều kỷ niệm làng quê. Anh lật những trang ký ức trong trẻo thật thà đến rơi nước mắt. Ví như các truyện Nợ làng quê Thợ cối xay con ngựa bạch của thầy tôi .v.v...

Gấp tập sách lại thấy bao nhiêu thân phận cảnh đời trớ trêu buồn thương sảng khoái bay bổng thì ít. Kết thúc truyện thường là nhắc nhớ về quá khứ day dứt một câu hỏi một lời tự thán. Người đọc có thể loáng thoáng nhớ quên nhân vật cốt truyện nhưng đến kết thúc thì đọc lại. Truyện như thế là có ấn tượng. Truyện đọc qua một lần khó lĩnh hội dễ lướt đọc lại thấy hay từng đoạn thấy vị từng câu. Truyện như thế là có duyên kín đáo. Truyện đọc thấy xôn xao. Truyện như thế là có chất thơ. Văn của Từ Nguyên Tĩnh có cả ba chất như vậy.  Tay bút truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh biến đổi đã dạng từ chỗ lăng xê những nhân vật lạ đầy khắc chạm đến những truyện tràn ra không cần cốt truyện văn chương có mùi cứt bò cỏ hoai: “Mùa yêu đương Vợ chồng xe trâu"... Bỗ bã ngang dọc như "Thằng Ka- ích"... nghĩa là loại truyện tự nhân vật sự kiện nói lên mọi điều. Đấy là bút pháp mạnh rất riêng của anh. Gần đây anh nghiêng cấu trúc theo mạch chuyện kể. Và anh đưa vào chuyện được khá nhiều dung lượng hiện thực. Truyện gợi mở nhiều chiều ngẫm nghĩ . Cứ như nhà văn này lại tìm ra một bút pháp khá đắc địa cho mình. Nhưng tôi nghĩ anh hãy mạnh dạn vứt bỏ tất cả những truyện quen thuộc đi chăng để có những truyện lạ.

                                                                               V.D

 

       Từ Nguyên Tĩnh và kiếp cầm ca 

                                                                         Mạnh Lê

 

    Trong tham luận đề tài khoa học Truyện ngắn và truyện ngắn của các cây bút  Thanh Hóa. Từ Nguyên Tĩnh đã bộc bạch quan niệm của mình về con người trong sáng tác văn học: “Dù cuộc đời có chề nổi khổ nhưng cố mà tìm may ra bắt gặp hạnh phúc. Thân phận con người cây cỏ con trâu con tôm con cá có khi bị lãng quên có khi nhớ và có khi  bị cuộc đời ruồng bỏ. Chiến tranh mất mát đau thương đã đành họ còn phải tái lập lại cuộc đời bi kịch cuộc đời thật trớ trêu thay"... Đọc mười tập truyện anh đã xuất bản trong  10 năm từ  1992 đến 2002 ta thấy anh trung thành với quan niệm về con người trong sáng tác của anh:  Mối tình chàng Lung Mù (truyện ngắn 1992) Gã nhà quê (Truyện ngắn 1993) Mảnh vụn chiến tranh (Tiểu thuyết 1996) Không thành người lớn (tiểu thuyết 1996) Mùa yêu đương (truyện ngắn 1997) và Người tình của cha (truyện ngắn 2000) và gần đây nhất là tập truyện ngắn Kiếp cầm ca (2002) (*).

Là nhà văn gốc chân quê đi bộ đội trực tiếp  tham gia chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng sau đó đi học đại học rồi về quê hương công tác và viết văn. Sáng tác chủ yếu của anh là những trang viết về Hàm Rồng về chiến tranh về đề tài nông thôn. Với anh nông thôn là đề tài muôn thuở của nhà văn gốc chân quê còn chiến tranh là sự mất mát đau thương lớn nhất luôn dằn vặt lương tâm người cầm bút. Anh đã tạo ra một loại nhân vật có hoàn cảnh và tính cách đặc biệt trong hàng loạt truyện ngắn thành công: Mối tình chàng Lung mù Người tình của cha Vợ chồng xe trâu Đứa bỏ làng Sư cụ chùa Tụng Thiên Gã nhà quê Hạnh phúc trần gian Rượu tắc kè Thợ cối xay Kiếp cầm ca Quả báo...

Truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh không trực diện đánh thẳng vào cái xấu cái ác. Ngòi bút của anh len lỏi vào nỗi đau những mất mát không thể nào bù đắp cho những số phận. Phía sau những bi kịch số phận là câu hỏi về hiện thực đời sống. Có thể nói truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh mang cái nhìn nhân ái suy tư về những bất hạnh cũng như khát khao hạnh phúc rất đỗi bình thường cần phải có của mỗi đời người. Đó cũng là cách thức khẳng định cái thiện phủ nhận cái ác những phẩm chất mỹ học đầy sắc thái bản ngã cần phải có ở mỗi nhà văn.

Tập truyện ngắn Kiếp cầm ca gồm 206 trang in với  14 truyện ngắn là những ám ảnh về đời sống đa dạng phong phú nhiều màu sắc của những chặng đời mà tác giả đã trải qua. Đó là những câu chuyện về những người thân yêu ruột thịt trong gia đình của làng quê và những người đồng đội đã gắn bó với anh trong chiến tranh. Có thể coi Kiếp cầm ca là ký ức về quá khứ được tác giải biểu hiện bằng thể loại truyện ngắn theo cách thức riêng của mình. Khác với những truyện ngắn trước đây tác giải khắc chạm tính cách nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình cá biệt. Giờ đây hoàn cảnh chỉ có cái cớ để tác giả bộc lộ những nét đặc thù của tính cách. Nhân vật truyện ngắn ở Kiếp cầm ca nghiên về khai thác tính cách tâm lý hơn là hành động để từ nét tính cách tâm lý phổ biến mà điển hình hóa nhân vật.

Trong truyện ngắn Kiếp cầm ca tác giả tập trung khai thác cuộc sống trầm luân của cặp tình nhân có tài đàn hát. Chàng Đất và ả đào hát Tuyết Tuyết là những nhân vật sân đình của xã hội làng quê. Họ yêu nhau say nhau hòa quyện vào nhau như tiếng đàn câu hát không thể tách rời. Từ một gã trai quê trốn lính đi câu cá trộm bị bắt bán xuống chốn thị thành làm phe xe. Nhờ có tài đàn đất được vua đưa vào kinh thành Huế để đàn trong cung đến nỗi công chúa phải mê. Chàng Đất bị đẩy xuống làm phu mã (dọn chuồng ngựa)  rồi bị đầy đi lính sang châu Phi dẹp loạn rồi lại về Pari diễn trò. Còn cô đào Tuyết trải qua chuỗi ngày ba chìm bảy nổi được quan Tây đưa sang Pháp gặp lại Đất. Tình yêu và số phận đã buộc họ chấp nhận cái chết. Vào một đêm mưa thâm gió bấc người ta nhốt Đất và Tuyết vào một cái cũi dìm xuống hồ La Đá Hạ. Đất và Tuyết Tuyết đã chết nhưng đêm đêm ở hồ La Đá hạ vẫn vang lên tiếng hát của họ. Câu chuyện mở ra từ màn đêm ở hồ La Đá hạ và kết thúc cũng khép lại bằng một màn đêm. Hỗu như cuộc sống của đôi trai tài gái sắc này đều diễn ra trong đêm tối. Đêm hát hầu chức dịch ở làng quê hầu vua ở Huế hầu các quan Tây ở Pari. Tất cả bộ mặt thực dụng nham hiểm tàn ác của lũ quan Tây quan ta đã bị chôn vùi theo dĩ vãng còn tiếng đàn tiếng hát của kiếp tài hoa dẫu chìm nổi oan khiên vẫn sống mãi với thời gian.

Bằng lối viết đan xen giữa tự sự với trữ tình kể và tả thực và hư quá khứ với hiện tại trong cái không quan huyền ảo mộng mị ở một làng quê tiếng đàn hát của kiếp cầm ca là tiếng kêu của số phận. Câu chuyện mở ra một triết lý xã hội sâu sắc. Làm sao có được tự do cho nghệ thuật khi những kẻ nắm quyền cai trị xã hội mượn nghệ thuật để nô dịch nghệ thuật.

Kêt cấu truyện nhân vật truyện nhân vật người kể chuyện được bố trí linh hoạt tự nhiên và hợp lý. Nhiều truyện mang tính tự truyện. Đây không phải là những truyện ngắn tự truyện mà là quá trình trải nghiệm tự ý thức của nhà văn về cuộc sống hiện thực. Trong truyện ngắn Mối tình đầu nhân vật kể lại mối tình sôi nổi tha thiết của người lính pháo thủ cũng là cán bộ viết báo tuyên truyền rồi làm thơ viết truyện. Câu chuyện tình yêu mà người lính viết ra để đăng báo cho đơn vị là câu chuyện tình yêu của chính mình.

Trong quá trình tìm tòi thể hiện những giá trị đích thực của con người trên cõi trần gian trong những truyện ngắn trước đây Từ Nguyên Tĩnh thường bộc lộ trực tiếp những triết lý những bình luận của anh về số phận con người và cuộc sống. Trong tập truyện ngắn này hoặc cái tôi nhân vật trực tiếp biểu hiện mình hoặc tác giả để sự kiện nhân vật tự nói lên ý nghĩa xã hội với bạn đọc. Trong truyện ngắn Rượu tắc kè tác gỉa say sưa miêu tả thứ rượu tắc kè hạ thổ ba tháng mười ngày rồi đưa lên phơi sương ngần ấy thời gian cốt lấy phần tinh túy của trời đất. Lúc rót rượu ra màu vàng sóng như màu của mật ong là uống được uống vào không có mùi vị tắc kè nhưng chảy vào cổ rồi mới nghe thấy tiếng kêu tắc kè... tắc kè.. chộn rộn khắp người (Rượu tắc kè (trang181). Có phải tác giả ngầm ý: Đủ một trăm ngày là người đã biến thành cõi ma và cách uống là là uống hồn cốt của ma không? Còn lão Mầm nhân vật nghiện rượu tắc kè là người từng ký một chữ loằng ngoằng là ra nhà ra đất từng say đắm các nàng hầu (các thư ký riêng) nhưng cái làm ông say nhất là nghiện thứ rượu tắc kè do ông bào chế và chỉ uống rượu tắc kè khi nghe tiếng tắc kè kêu. Đây không phải là truyện bảo vệ môi trường. ý nghĩa khái quát của truyện ngắn này nhằm lên án lối sống ích kỷ vụ lợi cá nhân hưởng lạc thú dựa trên sự mất mát đau thương của đồng loại. Tiếng kêu thảng thốt của con tắc kè thì khác chi tiếng hát ai oán của ả đào Tuyết Tuyết trong Kiếp cầm ca.

Tập truyện ngắn Kiếp cầm ca là cuộc hành trình của người viết tìm lại những giá trị văn hóa tinh thần của quá khứ dân tộc. Hình ảnh người cha trong Chiếc xe thồ của cha tôi tình nguyện thay con đi bộ đội làm người lính tải đạn với mong ước đứa con được tiếp tục đi học trở thành kỹ sư giao thông xây dựng những con đường lớn cho đất nước. Chiếc xe thồ theo ông suốt cuộc chiến và trở thành kỷ vật thiêng liêng. Trong truyện ngắn Chuyện tình người gác lăng mộ ý thức tôn trọng những di sản văn hóa dân tộc của lão Tra thật đáng quý. Từ một trai cày ở đất quý hương lão được cha cho vào Huế tìm người thân thích để kiếm công ăn việc làm. Lão tiêu đến đồng tiền cuối cùng mà không tìm được ông vua dòng họ Nguyễn gọi lão Tra bằng bác. Cuối cùng lão Tra phải nương nhờ cửa phật. Chính lòng từ tâm của Lão đã cứu vớt đời Lão. Lão trở thành người coi lăng mộ các triều vua.

Khát vọng đi tìm lại những giá trị văn hóa trầm tích của quá khứ ở các nhân vật như Huy trong Chuyện tình người gác lăng mộ Trà My trong truyện Nàng Trà My Quê trong Chim xa xa lại về Bùi trong Con ngựa bạch của cha tôi... là những nhân vật tự ý thức được vẻ đẹp tinh thần của quá khứ dân tộc. Bằng hình thức kết cấu ghép đôi hai mảng đời hai số phận quá khứ và hiện tại lồng bóng vào nhau tạo nên hơi hởi sử thi trong tính cách nhân vật. Như vậy yếu tố sử thi của tính cách nhân vật truyện không chỉ biểu hiện ở các tác phẩm anh hùng ca mà nó vẫn có thể biểu hiện được ở những tính cách con người bình thường. Đây cũng là nét thành công của tập truyện.

Yếu tố văn hóa sử thi tạo nên dư vị xốn xang cho người đọc còn nhờ ở chất thơ đậm đà của nó. Ngoài những câu chuyện mang tính huyền thoại lịch sử tác giải triệt để khai thác ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên giản dị của văn học dân gian tạo nên giọng điệu trữ tình tự sự đan xen hòa quyện... Trong quá trình miêu tả tính cách nhân vật tác giả lồng tiếng nói nhân vật bằng những câu thơ đoạn thơ phù hợp với ngôn ngữ nội tâm nhân vật. Ví như lời hát trong veo lui húi của ả đào Tuyết tuyết trong Kiếp cầm ca.

Gió gió trăng trăng mấy mấy gió gió trăng trăng

Mơ mơ tưởng tưởng nhớ nhớ ai ai sợi sợi xích xích thằng thằng

Hoặc như tiếng hát của Trà My trong truyện Nàng Trà my.

Con gái ơi! con gái ngoan của nóc

Mày yêu ai quấn tay cho chặt

Đừng để cho hồn lang thang trong rừng

Đậu trên ngọn Trà Linh

Bơi trên ngọn sông T rưng...

Cùng với những câu hát mang màu sắc mang mang u tịch của người con gái sông Hương cảnh yên bình êm ả của làng quê khi đêm xuống để từ trong đêm tiếng gà tiếng chim tiếng bom đạn tiếng ngựa phi cất lên.. Cảnh sắc âm điệu hình ảnh đan xen qua ngôn ngữ dân giã làng quê tạo nên màu sắc sinh động tươi tắn hay nói một cách khái quát chất sử thi chất thơ đã tạo nên âm điệu thẩm mỹ cho Kiếp cầm ca....

Đặt trong hệ hống nhân vật truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh từ trước tới nay tập truyện Kiếp cầm ca đóng góp một cách nhìn mới của tác giải về số phận con người hôm qua và hôm nay. Đó là loại nhân vật dù tốt hay xấu hoặc đan xen giữa tốt và xấu hoặc ác hoặc thiện cao sang hay thấp hèn trong đủ các giai tầng xã hội nhà văn không chỉ quan sát và ghi chép mà phải qua trải nghiệm để phát hiện ra nét tính cách đặc trưng tiêu biểu để từ đó xây dựng được những nhân vật mang đậm nét dấu ấn lịch sử văn hóa của một thời. Đời sống nhân vật dù biểu hiện trong bất kỳ hoàn cảnh nào song  đọng lại với thời gian vẫn là tính cách nhân vật truyện. Đó cũng là biểu hiện những đóng góp trong cá tính sáng tạo của nhà văn. Tập truyện ngắn Kiếp cầm ca của Từ Nguyên Tĩnh đã có được những thành công ấy... 

                                                                           Thanh Hóa tháng 3 năm 2003

                                                                                                        ML

* Kiếp cầm ca tập truyện ngắn NXBHNV 2002

More...

Những người đi từ chiến tranh

By Từ Nguyên Tĩnh

Những người đi từ chiến tranh

 

Sương Nguyệt Minh

 

Họ có một thời tuổi trẻ ở chiến trường rồi trở về với cuộc sống đời thường đi cày đi cấy kéo bễ quai đe đứng trên giảng đường hoặc viết văn làm báo... Lại có những người suốt đời trận mạc suốt đời binh nghiệp. Chiến tranh đã lùi xa hơn một phần ba thế kỷ nhưng ký ức thời đạn bom máu lửa thì cứ vẫn như là y nguyên vừa mới hôm qua.

 

Chỉ riêng Hàm Rồng - Nam Ngạn

viết cả đời không hết.

 

Có một lớp nhà văn binh nhì sinh ra và tr­ưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thời chiến tranh bom đạn ngút trời ấy hầu như sư­ đoàn nào cũng có 1 hoặc 2 nhà văn chiến sỹ vừa cầm súng vừa cầm bút. Như­ng 2 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thời trai trẻ ở cùng đại đội thì chỉ có một? Đó là nhà văn Từ Nguyên Tĩnh và Lê Xuân Giang ở Đại đội 4 - Hàm Rồng Anh hùng LLVTND thuộc Trung đoàn 228 Phòng không - một thời bảo vệ cầu Hàm Rồng – Nam Ngạn. Từ Nguyên Tĩnh là pháo thủ Lê Xuân Giang là trắc thủ ra đa sau này là(*) Chính trị viên.

 

Biết tên các anh đã hơn hai chục năm trong các bút ký truyện ngắn viết về thời trận mạc viết về ngư­ời lính; nhưng mãi đến hôm gặp các anh đứng trên trận địa cao xạ đồi C4 giới thiệu chiến tích của đơn vị mình ngày xư­a cho Đoàn cựu Chiến binh thì chúng tôi mới gặp nhau. Từ Nguyên Tĩnh cao to đầu hói. Lê Xuân Giang đậm chắc và tóc lơ thơ bạc. Cả hai gương mặt cũ nhiều nếp nhăn vì bom đạn vì thời gian và cả sự nghĩ ngợi trên từng trang giấy trắng nhọc nhằn viết. Nếu như­ Từ Nguyên Tĩnh ít nhiều có năng khiếu văn chương thì Lê Xuân Giang luôn tự nhận mình là nhà văn tự học tự rèn luyện mà thành như­ng hai anh cùng chung nỗi niềm bộc bạch rằng: động cơ để các anh cầm bút là món nợ đồng đội. Ấy là sự hy sinh mất mát của đồng đội của nhân dân: Không viết sao được khi: Từ ngày 3.4.1965 đến 27.1.1972 bộ đội và nhân dân khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn đánh 852 trận bắn rơi 117 máy bay 21 máy bay rơi tại chỗ bắt sống 14 giặc lái. Không ngẫm ngợi đau đáu sao được khi:  Chỉ tính riêng trên trận địa đồi C4 đã có 20 chiến sỹ hy sinh và hàng chục chiến sỹ bị th­ương. Rồi khẩu đội trưởng Lê Xuân Thanh lượm bom bi rơi trong trận địa ném ra ngoài cho bom nổ đã cứu sống cả khẩu đội; khẩu đội trưởng khẩu đội 4 Nguyễn Văn Điều bị th­ương lòi ruột vội lấy lá cờ bịt lại và đứng vững trên vị trí chỉ huy chiến đấu... lúc nào cũng ám ảnh thúc giục các anh viết.

 

Đoàn chúng tôi đến thăm đồi C4 - Hàm Rồng khi rừng bạch đàn hoa sữa keo tai tượng xanh bạt ngàn; dấu vết chiến tranh và cái chết không còn rình rập. Như­ng các dòng chữ các lời nhắn nhủ như­ những quyết tâm chiến đấu thì vẫn còn hiện hữu nơi đây trong lòng đất trong lòng ngư­ời: "Bị thương nhẹ coi như­ không bị thư­ơng bị thư­ơng nặng không rời trận địa". "Không bắn trúng địch thì địch bắn trúng ta." Pháo thủ Lê Văn Tĩnh (tức nhà văn Từ Nguyên Tĩnh) viết lên thành công sự: "Thà gục trên mâm pháo quyết không để cầu gục."... Lạ một điều bom đạn dày đặc khói lửa ngút trời mà Từ Nguyên Tĩnh không hề bị thư­ơng. So với nhiều người anh có may mắn và chính cái sự không bị thương ấy cũng là một thành tích bởi anh và những người còn sống tiếp tục sống để tiếp tục chiến đấu...

 

Sau này đã trở về với cuộc sống th­ường nhật các anh thường đến nơi trận địa cũ hoặc đứng hàng giờ nhìn cầu Hàm Rồng nhìn dòng sông Mã cuộn trôi nhìn khu Nam Ngạn còn chi chít vết bom và lại nhớ đến một thời máu lửa. Tiếng đất tiếng dòng sông và cả tiếng của đồng đội thì thầm dưới cỏ xanh vang vọng về không viết không chịu nổi. Mối tình chàng lung mù Chuyện tình bên giếng Mắt Rồng Ngư­ời tình của cha ... của Từ Nguyên Tĩnh và cả tác phẩm đư­ợc giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng cũng đ­ược viết từ cảm hứng như­ vậy. Nếu như­ thời chiến tranh Lê Xuân Giang chỉ huy Từ Nguyên Tĩnh thì thời bình Từ Nguyên Tĩnh "huấn luyện" Lê Xuân Giang viết văn. Đúng ra là thúc giục khơi gợi và giúp đỡ người thủ trưởng mình đi cùng con đư­ờng văn chương. Lê Xuân Giang có một thực tế chiến đấu ở Hàm Rồng - Nam Ngạn quá phong phú sinh động mà không phải nhà văn nào cũng có được. Người may mắn là một trong các truyện ngắn khá sinh động mà Lê Xuân Giang lấy nguyên mẫu từ thực tế chiến đấu. Cả Từ Nguyên Tĩnh nữa các anh bảo: chỉ riêng Hàm Rồng - Nam Ngạn thôi các anh viết cả đời cũng không hết viết cả đời cũng không xứng với sự hy sinh của đồng đội.

 

Gùi ngô giống nặng hơn gùi mồ hôi.

 

Tôi ngồi cùng xe thiếu t­ướng Nguyễn Đức Huy xuyên Việt ông kể:

Dạo ấy quãng đầu mùa xuân 1972 đang là trung đoàn phó ông cùng tham m­ưu trư­ởng đư­a một tổ đi trinh sát chuẩn bị đánh địch ở miền Tây Quảng Trị. Luồn rừng lội suối bơi sông công việc chư­a xong thì hết gạo. Gạo hết cả đơn vị đói. Chuối rừng rau tầu bay củ quả... có nghĩa là thứ gì cho vào miệng đư­ợc mà đỡ đói là "hái lượm" kỳ hết. Tất nhiên của rừng chỉ lót lòng lúc đói chứ không thay đư­ợc cơm gạo. Một hôm vừa đi trinh sát đến gần bờ sông ĐăkRông thì bất chợt ông phát hiện thấy có những làn khói trắng mỏng manh bay trên các tán cây bên s­ườn núi. Có dân rồi! Ông chợt reo lên trong lòng. Có dân là hết đói. Ông gọi một tổ ba người cùng đi lên núi. Hóa ra là một bản Pa Kô có chừng gần chục nóc nhà. Gọi là nóc nhà chứ thực ra là mái lá che tạm lên sàn nứa ngay trước cửa hang. Ngư­ời Pa Kô vùng này thường ở nửa nhà nửa hang như­ thế. Và phương thức sản xuất là đốt chặt chọc trỉa thu hoạch đ­ược một gùi ngô thì cũng phải đổi một gùi mồ hôi... Địch thường càn quét dồn dân Pa Kô vào khu tập trung như­ng bà con quyết một lòng bất hợp tác với địch bỏ bản cũ tìm bản mới lang thang trong rừng tránh bọn ngụy.

 

Bộ đội nhân dân gặp nhau mừng quá. Ông Huy trình bày thật cái việc bộ đội đang đói và vay lương thực. Già làng ngồi lặng một lát rồi bảo: "Dân PaKô miềng cũng đang đói như­ng bộ đội phải no mới đánh nổi giặc. Để miềng lo cho." Chẳng rõ chuyện gì đã xảy ra sau đó nhưng chỉ biết rằng: Già làng đã nói với bà con trong bản góp lại được một gùi ngô cho bộ đội chống đói. Ông Huy xé tờ giấy trong quyển sổ tay viết biên nhận đã vay ngô đồng bào và hẹn sẽ trả.

 

Ba ngày sau cái gùi ngô ấy ăn cũng hết mà việc điều nghiên chư­a xong. Ông Huy lại dẫn tổ ba người lên nói khó với dân làng vay ngô tiếp. Lần này thì già làng ngồi thừ ngư­ời ra mếu máo nói: "Bộ đội đói. Miềng th­ương lắm. Cái gùi ngô hôm trước cho bộ đội là gùi ngô giống đó. Bây giờ ngô giống cũng không còn đâu. Làng miềng đang đói lắm." Bỗng chốc trời đất­ tối sầm lại. Mắt ông hoa lên muốn ngã khựu. Ông và mấy ngư­ời lính mím chặt môi cho khỏi khóc và thấy mình có lỗi quá...

 

Nửa tháng sau bộ đội ông Huy về tập kết bên sông ĐăkRông để đánh giặc ở miền Tây Quảng Trị. Ông Huy cho bộ đội gùi 2 tạ gạo và 20 cân muối đến cái bản Pa Kô chênh vênh bên s­ườn núi ấy. Thật bất ngờ! Bản làng hoang vắng quá. Đến tiếng chó sủa gà cục tác cũng không. Gùi nặng toát mồ hôi chồn chân mỏi gối lên đến nơi thì làng bản trống trơn không còn ai. Các nơi ở dở nhà dở hang ấy cũng biến mất. Lòng ông quặn thắt đành cùng anh em  gùi gạo muối... xuống núi. Thế rồi chiến tranh cuốn ông và những người lính đi theo các chiến dịch lớn nhỏ; rồi hết thời quân ngũ về với đời thường không còn có điều kiện đi lùng trong rừng tìm gặp những ngư­ời đã nhịn ăn dồn góp đến hạt ngô giống cuối cùng nh­ường cho người lính các ông... Chiến tranh ác liệt điều kiện sống quá thấp đến mức giản đơn thô sơ rồi bệnh tật thời tiết khắc nghiệt; đã gần 40 năm rồi cái bản Pa Kô ấy liệu có còn không? Gần 40 năm thiếu tư­ớng Nguyễn Đức Huy vẫn canh cánh trong lòng cái gùi ngô giống năm xưa nặng tình nặng nghĩa - nặng hơn gùi mồ hôi; mà đơn vị ông chưa kịp trả cho đồng bào.

 

30 năm đánh giặc 30 năm chờ chồng.

 

Bà tên là Hồ Thị Bời - thiếu tá Anh hùng LLVT bà con th­ương kêu bằng cái tên thân mật: bà Tư­ Trầu. Gọi là bà chứ thực ra bây giờ phải kêu là cụ - cụ Tư­ Trầu.

 

Lấy chồng từ tuổi 18 hai năm sau bà đi kháng chiến. Chồng bà - Lâm Văn Ảnh cũng tham gia hoạt động cách mạng nên hai ng­ười rất ít gặp. Năm 1945 lúc bà sinh mụn con gái hơn hai tuổi thì vợ chồng bắt đầu xa nhau. Ngày đầu đi theo cách mạng bà làm công tác phụ nữ dân vận vận động góp gạo nuôi quân... Ông nằm vùng rồi lên chiến khu. Cơ quan chuyển đến chỗ nào thì bà bế con gái đi theo chỗ ấy. Lúc bà chờ ở nhà ở cơ quan thì ông không về thăm; lúc ông về tìm bà lại đi công tác; rồi bà bị địch bắt đi tù. Chín năm kháng chiến xa cách đằng đẵng bằng 90 năm hơn cả đời người; hoà bình lập lại ông đi tập kết rồi xa nhau hẳn. Xa biền biệt tới 30 năm. Đến năm 1975 ông trở về quê thì vợ chồng mới xum họp. Tôi cứ tự hỏi: Đây có phải là cặp vợ chồng xa nhau do chiến tranh lâu nhất Việt Nam? hay lâu nhất thế giới? Xa nhau lúc vợ chồng tóc còn xanh đến khi gặp lại tóc đã bạc. Đến bây giờ bà cũng không hiểu nổi vì sao thân gái một con sống trong xã hội cũ loạn lạc nhốn nháo mà chịu đựng mà v­ượt qua được từng ấy năm vắng chồng. Chỉ có thể cắt nghĩa: Bà nghe theo lời dạy của Cụ Hồ theo Đảng và thương chồng; nhưng còn một điều xâu sa nữa là phẩm chất ngư­ời phụ nữ Nam Bộ - phụ nữ Việt Nam hội tụ trong con ngư­ời bà.

 

Bà kể: Bà tham gia Cách mạng từ tháng 10.1945. Quê gốc Cần Giuộc Long An nhà nghèo bà không đ­ược đi học bà phải tự học chữ. Như­ng học quân sự: ném lựu đạn bắn súng... thì đ­ược cán bộ đằng mình dạy; song chư­a bao giờ bà phải sử dụng đến vũ khí trong gần nửa thế kỷ công tác cách mạng. Tính tình bà nhanh nhẹn chu đáo chắc chắn nhớ lâu nên đư­ợc vào làm công tác tình báo. Bà gửi con gái về quê ngoại hàng ngày với gánh hàng rong khô mực chai lọ đồ uống... lân la đến bọn sỹ quan để l­ượm lặt để moi tin tức cho đằng mình. Bà còn làm nhiệm vụ giao tài liệu. Bà đem tài liệu bỏ trong thúng đi chợ hay bỏ vào xuồng chở chuối chở thơm. Bà đi ở đợ cho tên thiếu tá Bảy để moi tin. Bà đi chùa rồi giấu tài liệu vào một vị trí đã quy ư­ớc cho ngư­ời khác đến lấy để chuyển lên cho cấp trên. Bà chỉ huy một tổ ba ngư­ời. Như­ng rồi có chiêu hồi - chính cái tên trong tổ ba người đã phản bội. Địch bắt bà tra tấn dã man thừa chết thiếu sống. Bây giờ những đư­ờng gân xanh nổi như­ cái đũa xe máy ở tay chân rồi vết thư­ơng trên chẩm đầu ở tay ở hông lại đau nhức mỗi khi trở trời vì ngày x­a bị những đòn đánh: chày vồ đập vào đầu vào chân đóng đinh vào mười đầu ngón tay gí điện vào chỗ kín... Bà quyết một mực không khai và khôn khéo đánh lừa địch. Bà bảo: “Bọn nó thấy tui đẹp nó thương nó mò tui tui không ­nghe nó thù vu oan chớ tôi đàn bà con gái đi làm cách mạng sao nổi.” Ngày đó bà đẹp thật. Gái một con trông mòn con mắt bà gửi con ở Long An đi hoạt động ở Sài Gòn nên chẳng ai biết bà đã có chồng đã sinh nở. Nhiều cán bộ đằng mình th­ương; rồi bọn ác ôn nguỵ quân nguỵ quyền ve vãn bà vẫn một lòng chung thuỷ với cách mạng với chồng. Đến 1954 bà ra tù. Bà đư­ợc làm căn cư­ớc mới và thay đổi vùng hoạt động. Vẫn công việc tình báo bao nhiêu tin tức kế hoạch bình định kế hoạch mở càn... của Mỹ - Nguỵ do bà chuyển cho cách mạng để rồi ta đã đánh tan làm cho bộ đội nhân dân bớt đổ máu...

 

Những năm cuối đời bà sống thanh thản trong một căn hộ do nhà nước tặng ở phường 7 quận 10 thành phố Hồ Chí Minh. Bà có lương hư­u có phụ cấp thư­ơng binh; nhưng bà bảo: bà già rồi ăn chẳng hết là bao bà đem một phần tặng trẻ mồ côi tặng trại thương binh... Trong nhà bà có một con lợn đất cứ mỗi lần lĩnh lương bà lại bớt một phần bỏ vào. Sáu tháng một lần đập lợn đất lấy tiền đem tặng những ngư­ời bất hạnh những người đã từng mất mát hy sinh vì Tổ Quốc. Bà làm việc nghĩa này từ năm 1985 hơn 20 mươi năm; cũng có nghĩa là hơn 40 lần bà mua lợn đất...  

 

Chuyện nhặt dọc đường gặp những người một thời sống trong lửa đạn về lại chiến trường xưa viết bao nhiêu cũng không hết. Bởi họ là các Anh hùng dũng sỹ chiến sỹ thi đua có nhiều kỳ tích thời chiến tranh mỗi người là một huyền thoại viết cả quyển sách cũng không đủ. Nhưng có một điều không phải ai cũng biết: Tôi đã nhìn thấy nhiều người suốt dọc đường đi hoặc đứng lặng lẽ ở nơi một thời trận mạc trầm ngâm nghĩ ngợi.

 

 

Nguồn: Văn nghệ Trẻ

 *Ghi chú: Chữ nghiêng do TNT thêm vào. Nhà văn Sương Nguyệt Minh bị nhầm ông Lê Xuân Giang ( Thanh Hóa)  hội viên hội văn nghệ Thanh Hóa với nhà văn Lê Xuân Giang quê Hà Tĩnh là dịch giả nổi tiếng (Lê Xuân Giang sinh 9/11/1937 quê Kỳ Xuân Kỳ Anh Hà Tĩnh du học tại Hunggari...đã dịch các tiểu thuyết: Những ngôi sao thành Eghe (1972) ; Hai mươi giờ;..Giải thưởng Dery Tibor Hunggari 1990)...(Xin xem  NVVNHĐ lần thứ IV)

 

 

 

More...

HÀ THỊ CẨM ANH và THUNG LŨNG SI DỒ

By Từ Nguyên Tĩnh

       Hà Thị Cẩm Anh và thung lũng Si Dồ

 * Hà Thị Cẩm Anh tên khai sinh:Hà Thị Ngọ.Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1948. Quê quán: Xã Cẩm Sơn huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc : Mường.
       *
Năm 1968 được điều từ UBND xã Cẩm Sơn về Ty văn hóa Thanh Hóa.1969-1972 đi học bổ túc văn hóa Công Nông(10/10). Tháng 5/1972 về công tác tại Ban Vận động thành lập Hội văn nghệ Thanh Hóa. Năm 1973 học khóa 6 trường Bồi dưỡng những người viết văn Hội nhà văn Việt Nam.1974-2000 công tác tại Hội VHNTTH.

*Tác phẩm chính đã xuất bản: Người con gái Mường Biện( tập truyện và ký 2002); Những đứa trẻ mồ côi( truyện dài 2003);Bài Xường ru từ trong núi (tập truyện ngắn 2004);Nước mắt của đá (tập truyện ngắn 2005); Lão thần rừng nhỏ bé ( truyện dài 2007 ); Mưa bụi (tập truyện ngắn 2008)

* Giải thưởng Văn học: Giai thưởng năm 2002 2003 2004 2005 2007 2008 của Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam. Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ HNVVN 2003-2004. Giải B cuộc thi truyện ngắn về đề tài miền núi và dân tộc HVNT các dân tộc thiểu số Việt Nam 2001-2002. Giải B Cuộc thi: Môi truồng qua thơ và truyện của Hội Nhà văn VN và báo Thiếu niên Tiền phong tổ chức năm 2001. Giải thuổng 5 năm của UBND tỉnh Thanh Hóa về VHNT năm 2005. Giải thuổng Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hóa năm 2003 2004 2007 2008.

* Vào Hội Nhà văn Việt Nam 2005.

 Không phải ai cũng tìm được cho mình một quê hương trong văn học dù tác phẩm của họ viết không hề ít. Lĩnh vực đề cập cũng rất bề bộn. Đọc lên tác phẩm của họ ta thấy ở đâu đó chỉ cần thay tên gọi khác đặt vào đều được. Sáng  tác của họ không có quê hương?

 Có người bỏ ra nhiều công sức hoặc ý thức  nhưng "hình bóng quê hương" trong văn chương cũng nhạt nhòa. Tại sao vậy điều này cũng dễ nhận ra hình bóng quê nhà thiếu vắng trong từng trang viết.

Với Hà Thị Cẩm Anh rời quê hương Cẩm Sơn của mình khá sớm. Đến với văn học cũng sớm. Có lúc tưởng sự "ưu ái" hiếm hoi này sự phát hiện ra cây bút nữ - người Mường cũng chỉ là phong trào đại loại như các phong trào khác lặn biệt tăm cùng với truyện ngắn Thím cò Khoai  hay Mùa rẫy đến sớm.

Không ít người rời Mường xuống thành phố là chất dân tộc của cha ông đã bị phôi phai. Sức mạnh tiềm tàng của dân tộc mà nhờ nó họ đã được đón chào bị "mùi thành thị" làm bay biến tự lúc nào. Ở dưới mỗi bài viết họ đề  Mường Ngưn ngày... tháng... năm Muồng Khô...ngày ...Tháng năm...vv và vv. chỉ để làm duyên. Để làm một việc đánh tráo khái niệm cho người đọc là anh ta chị ấy vẫn đi và gắn bó với bản Mường của mình đấy! Hồn vía của dân tộc mình đã bị tuột đi mất cả. Dẫu sau này có níu giữ thì "hồn Mường" không trở lại với đứa con bội bạc quay lưng lại dân tộc của mình.

Hà Thị Cẩm Anh không trong tình trạng ấy chị đã tìm cho mình cái Mường trong văn học. Không phải cái Mường quê lúc rời bản xuống xuôi về Hội Văn Nghệ để làm người viết văn. Đưa người viết rời khỏi vùng quê ấp ủ cho những tác phẩm đầu đời mà ta cứ gọi là "phát hiện nhân tài như vậy có sai không? Chẳng may vì phong trào mà chết yểu có phải làm hỏng cả một đời không? Không ai trả lời cho ta điều này. Được rời khỏi làng quê nghèo khổ trại chăn nuôi mà về một "tòa báo" nào đó có lương và "sáng tạo" là nuôi hy vọng ai chả mong? Tôi đã đọc được một bài báo viết về việc "đào tạo" Thần đồng kể có lúc cũng thật ấu trĩ "duy ý chí" nên cho rằng "đào tạo" là thành.

Hà Thị Cẩm Anh làm người ta tưởng "tịt ngòi" mấy chục năm ở văn phòng Hội Văn nghệ Thanh Hóa được đi học lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà Văn lúc về hưu cũng không để lại một ấn tượng nào. Động lực nào thúc dục chị cầm bút trở lại đến lúc này cũng còn là một bí mật. Nhưng điều đó là sự thật. Trong vòng 10 năm bút lực Hà Thị Cẩm Anh hồi sinh dồi dào. Chị viết như để bù lại thời gian "ngủ đông". Người con gái Mường Biện ( tập truyện và ký 2002) Những đứa trẻ mồ côi ( truyện dài 2003) Bài Xường ru từ núi ( tập truyện ngắn  2004) Nước mắt của đá (tập truyện ngắn 2005) Lão thần rừng nhỏ bé ( truyệ dài 2007) Mưa bụi ( tập truyện ngắn 2008).

Chuyện cưới vợ giả đánh tráo vợ đi hỏi cô em lức cưới thay bằng cô chị già không ai ngó đến ế ẩm...vv. Không riêng gì người Mường mà người Kinh cũng gặp. Nhưng được Hà Thị Cẩm Anh đặt vào thân phận của gã thiếu niên Mường đi ở rể ba năm để mong cưới được vợ có danh giá người họ Hà ( ngược lên từ Lang đạo Hà công Thắng lên Hà Triều Nguyệt rồi tới tận Hà Văn Mao một yếu nhân của phong trào Cần Vương) Chăn vịt làm rẫy múc nước cho các cô gái rửa chân cho khách là lang đạo từ các mường về ngủ thăm. Các tên bản mường nghe đến như lạc vào thế giới của Mo Mường xa xôi chỉ còn động trong ký ức: Mường Ký Mường Ảng Mường Bàn Đào Mường Bi Mường Ca Da Mường Biện Mường Yến...Mường Dồ. Chính vì thế lực của nhà vợ và của hồi môn mà cậu bé thiếu niện phải kết hôn với người đàn bà tuổi gấp đôi có ngoại hình xấu như ma mặt rỗ răng vẩu mắt háu háu đầy nhục dục nằm với bất cứ thằng đàn ông nào thậm chí cả bọn lang sa đen như đít chão... Chưa vào đêm đã vội cởi cúc đòi lên giường...Đến nỗi chàng thiếu niên phóng qua cửa man chạy mong thoát thân húc phải lão thày Mo đi mo về say rượu cả hai nằm bất tỉnh ôm nhau ngủ lúc có trận mưa lớn trôi xuống hón. Từ đó làm đệ tử cho lão. Rồi chiến tranh giặc giã và vào lính. Được đồng đội dạy cho cái chữ cũng được "giác ngộ" về đoạn đời theo lão mo để kiếm miếng ăn và chạy trốn bộ mặt ma người của vợ. Nhưng lần này hết giặc về quê ông ta lại đi khắp các mường để ghi chép những lời Khắp Xường của dân tộc mình và gặp "nàng" một bông hoa trinh trắng của núi rừng. Nhưng mỗi lần định làm "chuyện vợ chồng" thì bị sự ám ảnh hay bị mất vía không sao làm nổi. Có điều "nàng là con của cô gái út mà đáng lẽ là vợ của ông...Quay về nơi sinh ra mình. Mái nhà sàn xưa vẫn còn bóng ba người già nua: cha và mẹ người vợ mặt rỗ răng như răng thú nay đã rụng còn trơ ra lợi móm mém...Đến  núi cũng ứa ra nước mắt  (Nước mắt của đá)

Cuộc sống của người Mường cũng bị quy luật "nặn" ra những loại người cơ hội như Hà Văn Giáp mới học hết lớp bảy ở bản Côốc Vàn nhưng lại khai học hết cấp ba ở phố huyện Mường Yến rồi lấy cái bằng của người anh em là Giác chữa để đi học đại học Luật tại chức rồi Ất con lão lại trúng thầu xây dựng dự án 135... Trong khi người ta xung phong đi đánh giặc thì ăn lá cứt chim để khám trật bộ đội ở nhà. Vạ Cát vợ của Giáp xung phong đi thanh niên xung phong nhưng huyện không chấp nhận người đã có chồng. May quá trở về cũng là lúc Côốc Vàn thành lập dân quân trực chiến Vạ Cát được phân công là trinh sát trên đỉnh núi Yên Ngựa. Chả lẽ lại thua vợ Giáp cũng đành ra trận địa trực chiến. Một hôm trên đỉnh núi Yên Ngựa quan sát thấy chiếc F4 đít đã dính lửa lao qua trận địa súng trường của Giáp Giáp nổ súng xí phần chiến công. Huyện tỉnh sôi sục lên vì niềm vui Giáp đi khắp huyện tỉnh báo cáo thành tích. Vạ Cát nói ra sự thật cùng xã đội nhưng bị quy cho là phản động bị giam ba ngày và viết không biết bao nhiêu là kiểm điểm vì tội "chỉ điểm " cho máy bay Mỹ bắn phá cầu Đại lạn. Từ đó bị quản thúc không cho rời làng còn giao cho lão Cò Cà vác súng kè kè theo dõi .Nhưng Giáp lập mưu cho Cò Cà lúc ôm vạ Cát dân quân có mặt bắt trói và chính Giáp làm bộ nhân đạo mà xin tha cho vợ của mình để rồi con người ấy phải mang ơn suốt đời. Người phụ nữ Mường như Vạ Cát nhiều lắm chịu bao o ép và cơ cực vậy mà vẫn đinh ninh mang ơn kẻ bội bạc với mình ( Chuyện xưa)...

Truyện ngắn Ậu Mây ta cũng gặp nhân vật cùng loại như thế Hà Văn Tình chủ tịch Mường Khô. Cũng là loại người trong kháng chiến thì hèn nhát tìm cách lủi khỏi nơi ác liệt lúc hòa bình lại dơ mặt ra để đánh bóng cái thân thế. Nhưng Ậu Mây làm thày Mo một nghề mà xã hội vừa sợ sệt muốn đẩy nó ra nhưng lại bị quấn vào bởi không lý giải được số phận khốn khổ của mình. Bao đời nay vẫn dựa vào đó "là thức ăn tinh thần" cho những người yếu thế và là niềm khuếch trương của kẻ mạnh muốn gọi ma lớn ma bé về để đắp điếm che lấp cho những hành động ác độc của mình. Dù vậy Ậu Mây bị chủ tịch huyện gọi lên để Ậu cho y mong giải thoát khỏi âu lo về việc làm trái với đạo lý của con người bình thường. Nhưng lão thày cúng cao tay có thâm niên- Ậu Mây dẫu sao thì vẫn còn có nhân cách đã trả lời cho tên "lang đạo" thời nay: Ông không gọi được vía đâu đã đánh mất vía mình rồi!

Đêm khua luống cho người chết không đơn thuần là chuyện tình tay ba giữa hai người bạn cùng quê bạn chiến đấu Bùi Văn Nênh và Hà Văn Lình cùng cô Hà Thị Quyết. Hà Thị Cẩm Anh đã dựng nên bức tranh về người Mường Chiềng Đông. Những con người tưởng chừng trình độ văn hóa rất thấp nhưng tầm văn hóa lại rất cao. Mà xoay quanh Lình và những việc làm của người trai Mường đầy cao thượng này. Anh yêu say đắm Hà Thi Quyết người con gái cùng bản Chiềng Đông. Cùng nhau "hòa tấu" trên cối gạo trong đêm để tỏ tình thương nhớ không thể lìa xa cái chết cũng không tách ra nổi. Nhưng biết Nênh cũng yêu Quyết mà trong một lần khua luống Lình cầm tay cô bạn học ở cấp hai Mường Yến để Quyết có quyết định kết hôn với Nênh. Lình và Nênh cùng vào trận. Lúc ở chiến trường có nắm cơm tiêu chuẩn cho người vào trận nhỏ hơn cái nắm tay trẻ con cũng nhường cho bạn mình. Đến lúc về quê sau chiến tranh cũng khoác trên mình bộ áo lính bạc màu cùng con dao khai khẩn đất đai mong đổi đời cho người Chiềng Đông. Nhận những đứa con không chốn nương thân lo cho ăn học vậy mà lại mang tiếng rằng là loại đực rựa chung chạ lung tung. Nênh biết rõ cái làm đàn ông của bạn bị mất vậy mà không lời thanh minh (?). Cả đến khi dơ tay biểu quyết khai trừ Lình ra khỏi đảng biết rằng Lình nhốt thằng Dếnh đứa bé hư hỏng bị bỏ rơi là để cai nghiện vậy mà bị tòa án xử án treo sáu tháng. Mà bị án treo nghĩa là bị khai trừ ra khỏi đảng là điều không tránh khỏi. Bây giờ Lình người mà cả đời hy sinh hạnh phúc của mình cho bạn và người khác không còn nữa. Người dám "đổi mới" mong cho Chiềng Đồng thoát đói nghèo đã ra đi. Nênh muốn làm tang cho bạn thật to muốn cho bạn nghe tiếng khua luống muốn Mường Chiềng Đông tiễn đưa người đáng ra phải được yêu quý và tôn trọng như một anh hùng. Hà Thị Cẩm Anh quả thật công phu. Yêu nhân vật dành cho sự chăm chút thật cảm động :" Con đường từ dốc Cây Khế đến nhà bí thư chi bộ Trương Văn Bốn mờ đi trong nước mưa trong nước mắt của ông. Không gian xám xịt ảm đạm.Gió mỗi lúc một mạnh hơn. Mưa bụi mỗi lúc một dày hơn. Rét mỗi lúc một đậm hơn. Ông Nênh cũng già đi nhanh hơn. Mặt ông tái nhợt nhăn nhúm. Những sợi tóc bạc trắng ướt sũng bết chặt vào hộp sọ to sụ gồ ghề" Sự cảnh báo cho con người không chỉ là Mường hay Kinh rằng dẫu "mọi người bình đẳng trước pháp luật" nhưng sự mất mát những người tốt như ông Lình thì không có pháp luật nào bù nổi. Những người tốt có trái tim nhân hậu bao giờ cũng chịu thiệt thòi. Sự không cứu vãn nỗi trong tha hóa của con người :" Tiếng khua luống nhịp nhàng khoan thai mỗi lúc một gần hơn rõ hơn. Sự thô lỗ của động tác sự trần tục của cơ bắp và sự nặng nề khô cứng của tiếng vang được tách bạch ra rồi rơi tóm vào khoảng không vô cảm và lập tức bị pha loãng vào trong mưa bụi rồi tan biến đi rất nhanh chỉ còn lại cái tinh tế của âm thanh sự uyển chuyển của nhạc điệu. Đó là tiếng ru cảu đất. Tiếng hát của rừng. Tiếng reo của nước. Đó là tiếng Xường của mẹ là tiếng nói của cha. Vì thế dù có đi đâu về đâu? Dù có xa cả chín núi mười mường người Chiềng Đông cũng không thể quên được tiếng chày giã gạo thậm thịch tiếng nhạc Khua Luống "cúc cùm cum " của mình"

Đối thoại vơi sự bất tử- hay lời kêu cứu về sự hủy diệt của con người với văn hóa. Là những dòng sông và và những lời Xường lời Khặp đang bị lòng tham vô độ làm giàu bất chính bằng mọi thủ đoạn tàn bạo. Dòng sông Mẹ đang kêu cứu. Những nóc nhà sàn đang than thở. Dẫu có dựng lên đấy nhưng chỉ mang hình thức bảo tàng khi không còn môi trường văn hóa dĩ nhiên nó cũng bị hủy diệt dù cho muốn cứu vãn đi chăng nữa. Cũng trong mạch này truyện ngắn Của hồi môn kêu gọi lòng vị tha. Người cha tội nghiệp với khao khát đi tìm sự khoái lạc ở những cô gái như bông hoa dại trên đất Mường. Từng có mối tình vụt đến trong một đêm trăng hoa cùng cô gái có điệu Xường hay không cưỡng nổi.

Anh ở Mường Dồ xa lắc

Anh ở Mường Dồ xa lơ

Mường Dồ có bảy con suối

Mường Dồ có tám con khe

Bảy con suối anh bắc cầu đá

Tám con khe anh bắc cầu lim

Anh bắc bảy cây cầu dá

Anh bắc tám cây cầu lim

Anh đón em về bằng câu Xường

Thương thiệt thương nồng em ơi!

 Đứa con ấy ra đời mà người cha "thi sĩ" vô trách nhiệm vẫn khoác thổ cẩm trên vai đi khắp Mường trong ra Mường ngoài để sưu tầm ghi lại những câu Xường lời Khặp bài Mo với mong muốn giữ lại giá trị còn lại mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Nhưng người cha- nhà thơ ấy cũng không tránh khỏi bàn tay của "cơ chế thị trường" biến anh thành hàng hóa của hàng hóa khác. Bị trói lại làm cái máy làm thơ - trò chơi của gái bao...

 Người viết nào cũng phải tự vượt lên mình. Đối với Hà thị Cẩm Anh nếu ta theo dõi liên tục tác phẩm của chị thì thấy rõ. Từ những truyện ngắn cách xa vài chục năm: Thím cò Khoai (hồn nhiên không có bàn tay của người "thợ"...Cây cội già tàn tật ( hồn nhiên như thể sự tự khám phá ra cái hoang sơ của mình là vật bị bỏ rơi bỏ đi nay tìm thấy giá trị trong sự lăn lóc bỏ quên phủ bụi của thời gian...) Chuyện xưa Ậu Mây Chỗ ngoặt cha và mẹ tôi...đến Đối thoại với sự bất tử Của hồi môn...những truyện ngắn viết gần đây tác giả đã linh hoạt trong dựng truyện. Thay cho cách kể chầm chậm bằng bằng; bằng  những lát cắt nhanh mà những truyện trước kia của chị ta không hề thấy. Các truyện trước đây yếu tố vạm vỡ làm đầy đủ thì càng về sau tốc độ hành động của nhân vật được đẩy nhanh chất thơ mọng được sử dụng người đọc có cảm hứng khi theo dõi câu chuyện. Ta thấy rất rõ dụng ý của tác giả trong toàn bộ những truyện ngắn xuất hiện. Sợi giây nối kết của mình với đất Mường cho dù ra đi từ lâu để làm người thành thị. Nhưng hình bóng quê hương bản mường trong sáng tác lúc nào cũng lồ lộ. Cách ăn nói của nhân vật đến tạo ra một không gian truyện ngắn đến chắp nối dòng lịch sử với âm hưởng của núi non sông nước cây cỏ đất Si Dồ. Nhà văn không chỉ viết nên những truyện ngắn dễ thương về thung lũng Si Dồ mà còn làm một việc khác nữa là khôi phục cho các thế hệ sau cùng tưởng tượng về sông núi cỏ cây con người nguồn cội... đang bị thời gian làm cho phôi phai mòn mất dần dư vị của tiếng cồng chiêng lời ăn tiếng nói và dòng máu Mường trong huyết quản.. 

Trong số không nhiều những nhà văn dân tộc Mường còn bám trụ lại trên  xứ Thanh; phần nhiều là người làm thơ riêng Hà Thị Cẩm Anh lại chọn cho mình Viết văn xuôi. Công việc nhọc nhằn đòi hỏi phải bươn chải lăn lộn và nhất là phải tích luỹ kiến thức và vốn hiện thực phong phú. Vốn sống nói chung là một thách đó với các nhà văn vốn sống về văn hóa của người Mường lại càng khó. Làm sao để trong tác phẩm của mình mang được bóng dáng của quê hương của người Mường. Không phải chỉ là nói nhịu trong lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt để làm nên sắc thái. Cũng không phải chỉ là một vài tên gọi: Vạ Mộng râu Mọng váy...vv... rồi ép cho nó cái vỏ của người  Mường một cách khiên cưỡng.

Hà thị Cẩm Anh đã rời quê từ ba bốn chục năm nay. Sự tách khỏi nơi bản làng cũng là nguy cơ cắt đứt với nguồn mạch văn hóa với cộng đồng của mình. May thay sợi giây vô hình ấy chính nó là mạch ngầm của văn hóa Mường không hề bị căt đứt vẫn chảy trong máu của mình. Tôi định hỏi Hà Thị Cẩm Anh chị đã đọc "đẻ đất đẻ nước " chưa? Vậy mà bóng dáng cây Chu đá Chu đồng bà Dạ Dần Nàng Nga như vẫn đâu đây trong truyện của mình. Dù có lên Cẩm Thủy hay về Mường Ống Bá Thước lên tận các bản Mường xa cũng không thấy thung lũng Sì Dồ. Có một thung lũng Sì Dồ trong tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh đang rõ nét được khắc họa. Nó là hình bóng quê nhà bản Mường mà nhà văn gửi gắm. Là những câu chuyện của trai Mường yêu gái Mường gặp bao trắc trở phản bội nhưng vượt lên số phận để có tình yêu hồn hậu thủy chung của người Mường. Hà Thị Cẩm Anh đã có thung lũng Sì Dổ trong tác phẩm của mình đó là quê hương không có ở ngoài đời.

                                                             Viết xong 25/4/2011

                                                                            

         

 

More...

Kỷ niệm về Hàm Rồng

By Từ Nguyên Tĩnh

   Chuyện về những người lính trên núi Mắt Rồng

 

                                                 Ký                       

 

Bây giờ lên núi Mắt Rồng chỉ còn dấu vết những bài thơ chữ Hán của người xưa khắc vào trần hang ca ngợi cảnh đẹp của núi non sông nước Hàm Rồng. Nhưng  Phân đội 3 trong chiến tranh chống Mỹ đã bám trụ nơi đây lúc cao nhất cũng chỉ ba mươi người. Nhiệm vụ không cho địch ở mặt đất dưới sông và trên không vào phá cầu Hàm Rồng. Ở phía bắc trận địa dựa vào sườn núi Ngọc phía Nam một trận địa ngay sát đầu cầu. Và men theo sườn núi Mắt Rồng trận địa 12 7 ly và đại liên án ngữ từ thượng lưu và hạ lưu của cầu. Trong lúc có máy bay Mỹ vào bắn phá nếu kẻ địch cho người nhái từ biển vào ca nô hay bám vào bè luồng trôi theo sông vào đặt chất nổ đánh vào mố cầu sẽ bị tiêu diệt ngay. Chúng mà theo đường bộ có trận địa núi Ngọc và Mắt Rồng sẵn sàng tiêu diệt.

 Hàm Rồng càng chiến thắng lớn đi vào lịch sử vẻ vàng đọ sức càng ác liệt thì xứ mạng của người bảo vệ cầu càng vinh quang và quyết liệt. Các chiến sĩ bắn máy bay ở các trận địa thì có các loại súng lớn để nhắm vào kẻ thù mà bắn. Đội cầu lúc có máy bay được phép vào hang  trong lòng núi Ngọc mà ẩn nấp. Công an giao thông được phép vào nơi an toàn khi xảy ra chiến sự. Phân đội 3 bất cứ lúc nào cũng phải có mặt nơi công sự của mình và vũ khí duy nhất có thể hiệp đồng với bộ đội cao xạ là bắn được máy bay bay thấp khi chúng cách cự ly dưới một ngàn mét. Nghĩa là chúng bổ nhào vào bắn phá cầu là những cán bộ chiến sĩ ở đây chịu chung sự thương vong cùng nhịp cầu. Nếu các chiến sĩ ở trận địa Hàm Rồng khao khát được nhìn nhịp cầu một lần tay sờ mó trên da thịt của cầu; Phân đội 3 mở mắt ra là nhìn thấy nhịp cầu nằm ngủ vẫn lắng nghe gió dội ào ào của dòng sông Mã hít thở thấy mùi vị khét lẹt trên da thịt của nhịp cầu. Câu ca dao này có phải là viết cho riêng họ:

                   Nhịp cầu là trái tim tôi

             Niềm tin 31 triệu người Việt nam

Trong suốt cuộc chiến chống lại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ hầu như toàn bộ chiến sĩ của Phân đội 3 ai cũng đều dính ít nhất một lần bom đạn của kẻ thù. Người nặng thì cuộc đời còn lại bị tàn phế người nhẹ không thể tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội trên núi Mắt Rồng. May mắn làm sao vẫn còn lại một người có mặt chiến đấu hầu như sống trọn cả tuổi thanh xuân của mình trong hang núi Mắt Rồng. Anh là Nguyễn Xuân Chuẩn Phân đội trưởng phân đội 3 hàng xóm của đại đội 4 chúng tôi. Nhưng trong chiến tranh ai biết việc của người ấy. Chúng tôi thì thèm được nhìn cầu nhưng cũng chỉ ngó thấy gáy của con Rồng. Trái lại Phân đội 3 của Nguyễn Xuân Chuẩn lại gắn công việc của mình trên từng thanh sắt dầm cầu. Trong ký ức của người lính gác cầu Nguyễn xuân Chuẩn như vẫn thấy mới ngày nào về với xứ Thanh và Hàm Rồng...

 

*

Rời quê hương xã Vũ Hòa (huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình) nhập ngũ tháng 3 năm 1963 đến tháng 4 năm 1964 anh được cử đi học trường Hỏa lực trung đoàn 250 F350. Tốt nghiệp xong được đề bạt là Tiểu đội trưởng điều về Đại đội 3 Công an vũ trang Thanh Hóa và tăng cường về Phân đội 3 bảo vệ cầu Hàm Rồng. Vì được học nên đồng chí Nguyễn Quang Quê đại đội trưởng giao cho:" Xây dựng phương án tác chiến bảo vệ cầu Hàm Rồng". Nguyễn Xuân Chuẩn tâm sự ban đầu anh cũng lo lắng lắm. Học thì vậy nhưng bố trí hỏa lực làm sao đây trên địa hình mênh mông của Hàm Rồng.  Lại còn nơi đóng quân cho bộ đội không thể ở xa cầu được. Trận địa bố trí trên núi Ngọc và núi Mắt Rồng cũng là mạo hiểm vô cùng. Máy bay địch bổ nhào đánh cầu tức là đánh vào trận địa. Một quyết định hết sức táo bạo bố trí cho phân đội ở trong núi Mắt Rồng. Có ý kiến nêu ra hang nhỏ như vậy làm sao chứa nổi hai ba chục người. Nhất là việc nước nôi cơm ăn sinh hoạt cho bộ đội là cả một nan giải...vv...

Phương án được thông qua. Nguyễn Xuân Chuẩn được đề bạt lên làm phân đội trưởng thay đồng chí Mai Gia Vọng đi học. Những ngày tháng gian khổ luyện tập phương án tác chiến và cải tạo hang sao cho đủ nơi ở cho bộ đội. Trên núi Mắt Rồng được xây dựng hai trận địa một chính và một dự bị   đặt súng 12 7 ly đại liên súng trường. Phải dùng choòng xà beng mà đục từng vách núi để kiến thiết trận địa. Bên bờ Nam cầu trận địa đặt ngay ở bờ sông. Bờ bắc đặt trên sườn núi Ngọc. Hàng ngày chiến sĩ phải thay nhau ra trận địa trực chiến. Trên thông báo Mỹ sẽ bắn phá Hàm Rồng Phân đội 3 bằng cách nào cũng không để cho kẻ địch trên mặt đất trên sông phá sập cầu; ngoài ra hiệp đồng cùng bộ đội và dân quân bắn máy bay bay thấp vào bắn phá cầu.

Ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 đi vào lịch sử cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của quân và dân Thanh Hóa bắn rơi 47 máy bay Mỹ bắt sống nhiều giặc lái. Ngay trận chiến đấu đầu tiên này bom đạn bùn nước từ sông Mã đã tung lên vùi lấp cả hai trận địa của phân đội trên núi Ngọc và núi Mắt Rồng; cả trận địa chính và trận địa phụ cũng không còn nơi để đặt súng chiến đấu. Đồng chí Ngân Văn Néng người dân tộc Thái quê ở Bá Thước hai tay nắm chặt chân súng 12 7 ly đặt trên vai làm giá súng cho xạ thủ Hoàng Trung Thuấn bắn. Cũng lúc đó một chiếc máy bay Mỹ hạ thấp độ cao nhào xuống cắt bom xuống cầu. Thuấn cùng đồng đội đã nổ súng kịp thời bắn vỗ mặt vào tên giặc nhà trời dính đạn bốc khói lao ra ngoài biến. Ở phía bắc cầu trên sườn núi Ngọc hai chiến sĩ Khiên và Hiên anh dũng chờ cho máy bay xà xuống thấp  nổ súng. Bom bỏ gần hất cả hai ra ra khỏi bờ công sự. Khiên bị thương ngất đi lúc nào không hay lúc tỉnh dạy tự băng bó cho mình. Đội cứu thương của thị xã Thanh Hóa ra anh một mực xin ở lại trận địa tiếp rục chiến đấu. Tổ bảo vệ mố cầu phía nam gồm có Nam Tam và Hậu bom nổ gần hất cả người và súng xuống sông Mã không để mất vũ khí bơi vào bờ chạy về trận địa tiếp tục chiến đấu.

Đối với Phân đội 3 dù đánh lớn hay đánh nhỏ ngày bình thường cũng như ác liệt lúc nào cũng canh gác cầu và hướng dẫn cho những đoàn quân qua cầu ra tiền tuyến. Ngày 20/8/1965 còn khắc sâu trong ký ức Nguyễn Xuân Chuẩn. Tổ hỏa lực Lê Đình Vưu Sầm Bá Hàm Nông Văn Câu (dân tộc Tày Chợ Giã- Bắc Thái ) mặc cho kẻ địch ném bom khói che mắt không nhìn thấy cầu di chuyển đến trận địa sát cầu. Nguyễn Xuân Chuẩn và Lê Đình Vưu bị thương vào đùi máu chảy lênh láng nhưng tự bằng bó quyết không rời trận địa.

Không đánh sập được cầu bằng máy bay địch vô cùng cay cú. Đêm 29 tháng 5 năm 1966 lợi dụng thời tiết xấu máy bay C130 vào thả 8 quả thủy lôi chỉ huy phân đội đã kết hợp với dân quân Yên Vực và công binh của tỉnh đội "móc ruột" từng quả phá hủy không cho chúng trôi xuống để phá cầu. Cán bộ và chiến sĩ của phân đội cũng không ai biết được nếu để tám quả thủy lôi này trôi gặp mố cầu sẽ được kích nổ một cách dễ dàng mà không tốn nhiều đến sinh mạng của giặc lái phơi thây trên đất liền và ngoài biển cả.

Ngày 24 tháng 8 năm 1966 địch đang công kích vào cầu. Không hiểu sao một bè luồng dài hàng trăm mét trôi xuống quấn vào trụ giữa của cầu tăng sức cản của dòng chảy nguy hiểm là địch có thể nhìn bè luồng và cầu có tiết diện to hơn dễ cho ngắm ném bom. Máy bay không ngớt bổ nhào bom đạn địch vẫn nổ không một lúc dừng. Đồng chí Hậu được phân công bơi ra chặt đứt bè giải cứu cho trụ giữa. Biết bơi ra trụ giữa lúc này là cầm chắc sự hy sinh nhưng Hậu không ngần ngại anh đã hoàn thành nhiệm vụ trong niềm vui sướng của đồng đội.

Trong ba ngày 21 22 và 23 tháng 9 năm 1966 địch huy đông gần 360 lần chiếc máy bay đánh phá vào Hàm Rồng hai bên núi Ngọc và núi Mắt rồng không lúc nào ngớt khói bom. Trận địa của phân đội bằng súng bộ binh canh mặt đất và 12 7 sẵn sàng cùng bộ đội cao xạ sẵn sàng bắn những chiếc máy bay bay thấp lợi dụng vào sự mất cảnh giác liều chết bay vào bắn phá cầu. Đồng chí Bùi Quang Ninh chính trị viên phân đội cùng phân đội trưởng Nguyễn Xuân Chuẩn không chỉ chỉ huy phân đội mà trực tiếp chiến đấu ở từng trận địa chốt hai bên núi Ngọc núi Rồng. Bom nổ vào trận địa tưởng chừng cả đỉnh núi dòng sông đổ sập xuống bất cứ lúc nào. Một quả bom nổ ngay bờ công sự đồng chí Ninh bị thương được đưa vào hang núi Mắt Rồng chưa kịp chuyển về tuyến sau lại bị một quả bom khác nổ làm cho toàn bộ giường chiếu đồ đạc lán trại đổ sập đè lên người. Thật may lúc đó được tự vệ đội cầu công an cảnh sát công nhân nhà máy xay kịp thời ứng cứu. Anh Duyên nhà máy điện anh Cuông nhà máy xay cõng đưa anh em ra khỏi hang. Đồng chí Ninh bị một hòn đá to từ nóc hang rơi vào lưng người bị mềm nhũn. Nhưng khi xe cứu thương đến đưa đi bệnh viện anh cương quyết không chịu rời vị trí chiến đấu. Ở viện quân Y5 biết mình bị gãy cột sống không còn tương lai nên đề nghị phân đội đừng ai cho cô Kim người yêu biết địa chỉ của mình...Ba mươi năm sau vào năm 1996 Nguyễn Xuân Chuẩn lúc này là đại tá chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh Thanh Hóa nhận được thư của anh Bùi Quang Ninh gửi tới. Cả cơ quan biên phòng xôn xao gọi là "lá thư của liệt sĩ" vì ai cũng đinh ninh anh đã hy sinh rồi từ hồi ở viện Quân Y5. Đơn vị đã tổ chức một đoàn ra thăm anh Ninh ở trại thương binh Thuận Thành Hà Bắc. Gầy ồm nhưng Bùi Quang Ninh được vợ là người do chị Kim cưới cho. Chị Kim chờ Ninh không thấy nên đã lặp gia đình. Nhưng vẫn không nguôi nhớ thương và dò hỏi tìm kiếm may ra gặp được anh Ninh. Lúc tìm được anh thì đã có gia đình. Chị xe duyên cho anh người y tá và đứng ra tổ chức cưới vợ cho người yêu của mình. Anh Bùi Quang Ninh cũng được chăm sóc động viên lúc cuối đời.

Trong trận đánh ngày 22 tháng 9 năm 1966 mố cầu phía Bắc bị yếu đi rất nhiều. Đội cầu 19/5 làm thêm một trụ cầu bằng cách xếp chồng lên những thanh tà vệt bằng gỗ. Một chùm bom nổ ở gần và bốc lửa cháy. Nếu để trụ cầu bị cháy nguy cơ cầu sẽ bị sập. Trước tình hình ấy Nguyễn Xuân Chuẩn đã tập hợp một tổ gồm các đồng chí Lai Cầu. Bển Luận Hàm Hoàn băng qua bom đạn sang cầu dập lửa. Được các đồng chí công an cảnh sát công nhân đội cầu và dân quân Yên Vực chi viện nên đã cứu được trụ cầu đảm bảo giao thông thông suốt.

Không chỉ bom tên lửa địch cho tàu từ ngoài biển bắn pháo kích vào Hàm Rồng. Hơn ai hết những chiến sĩ của phân đội trực ban trong tầm rít của đạn pháo. Nhưng ai cũng tự dặn mình rằng chỉ cần run sợ mất cảnh giác là kẻ địch có thể thâm nhập phá hoại cầu bất cứ lúc nào.

Suốt cả thời kỳ sau này khi Mỹ đánh lại Hàm Rồng hay B52 rải thảm các chiến sĩ: Ngô Anh Linh Lê Xuân Nông Mai Bạch Vân vẫn băng qua bom đạn bám cầu dẫn xe quân sự qua cầu không quản hy sinh đến tính mạng. Một đêm đoàn xe quân sự gồm 9 chiếc qua cầu thì có máy bay vào bắn phá. Không hiểu sao một lái xe lại quyên không tắt đèn chẳng khác gì tạo cho kẻ địch nhằm vào giữa cầu. Phân đội trưởng Nguyễn Xuân Chuẩn cùng Lò Văn Phưa đã luồn lách qua các xe ra giữa cầu để tắt đèn. Chưa kịp rời khỏi cầu bị ngày một quả bom của địch nổ muốn hất tung người xuống sông Mã.

Những chuyện như vậy sảy ra hàng ngày với người lính gác cầu. Bao nhiêu chuyến xe qua Hàm Rồng vào chi viện cho đồng bào miền Nam các anh không hề nhớ hết. Nhưng những người lái xe đi qua Hàm Rồng ở xa nhìn thấy ngọn đèn sáng từ trong núi Mắt Rồng là yên lòng đi tiếp. Bây giờ không ai còn nhớ vị trí của người lính gác cầu ở đâu. Nhưng ngày ấy ngay ở đầu cầu cạnh núi Ngọc treo chiếc kẻng để báo động có máy bay cho công nhân đội cầu rời giàn giáo xuống hang núi Ngọc. Và ở đó có vị trí của người chiến sĩ công an vũ trang gác cầu. Hai bên cầu còn có ngọn đèn "đứng gác" gọi sự bình yên cho người lính hành quân vào Nam ra Bắc. Không hiểu người làm bài thơ "ngọn đèn đứng gác" có phải xúc cảm thi tứ từ nơi Hàm Rồng này không nhưng tấm lòng của người lính thì vẫn nghĩ có mình trong đó.

*

Mắt Rồng thật kỳ lạ với cuộc đời người lính Nguyễn Xuân Chuẩn. Anh là người duy nhất còn lại của phân đội sống trên hang núi Măt Rồng 7 năm 8 tháng. Cùng đồng đội cải tạo lòng hang để sống được cả một thời kỳ chiến tranh thiếu thốn và ác liệt. Làm hàng trăm hầm chữ A trên vách núi và dọc đường sang hai bên trận địa núi Ngọc và núi Rồng. Cải tiến giá súng đại liên từ năm chiến sĩ xuống một chiến sĩ cũng có thể thao tác bắn địch trong lúc khẩn cấp. Đặc biệt các chiến sĩ phải men theo dốc  đầu cầu xuống sông Mã lấy nước rất nguy hiểm. Người lính Phân đội 3 đã làm chiếc xa lấy nước từ sông Mã lên hang núi Mắt Rồng có nước sinh hoạt mà giảm khã năng bị thương vong không cần thiết.

Gặp lại Nguyễn Xuân Chuẩn sau năm mươi năm đạo diễn đại tá Lê Lâm người được phân đội cưu mang trong hang núi Mắt Rồng quay những thước phim Hàm Rồng "để đời" không khỏi xúc động: " Chính đồng chí này đã giúp chúng tôi quay được những thước phim Hàm Rồng chiến thắng đây!". Ông chỉ tiếc một điều tại sao lúc đó không quay hình ảnh chiếc xa quay nước để hôm nay mọi người được nhìn thấy sự diệu vợi của người lính Mắt Rồng.

Các phái đoàn quốc tế và trong nước mỗi lần lên thăm Phân đội 3 công an vũ trang không khỏi cảm phục về tinh thần anh dũng bám trụ gắn bó hy sinh để bảo vệ cầu Hàm Rồng. Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam đã viết:" Giữa Mắt Rồng này chúng tôi thấy ấm lòng bởi mối tình Bắc- Nam tình đồng chí cùng chung một chiến hào đánh Mỹ chúng tôi sẽ nói với đồng bào chiến sĩ trong nớ rằng mỗi bát gạo kiện hàng viên thuốc từ hậu phương lớn vào chiến trường đều có một phần xương máu và tình yêu miền Nam của các chiến sĩ Công an vũ trang bảo vệ cầu Hàm Rồng này".

 Phân đội 3 được Đảng và nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng và tặng nhiều huân chương cao quý khác. Tôi hỏi đùa đại tá Nguyễ Xuân Chuẩn anh nhận được phần  thưởng gì cho riêng mình? Anh cười không trả lời. Tôi biết những năm tháng chiến tranh bám trụ nơi núi Mắt Rồng anh đã có mối tình thật đẹp. Cô giáo Lương Thị Sửu quê làng Đông Sơn có giọng hò rất hay gắn bó cùng anh từ những ngày đầu sau là người vợ hiền. Sinh cho anh những đứa con ngoan học giỏi và trưởng thành. Có nhiều chuyện lạ trên núi Mắt Rồng chưa viết được. Nhưng đó cũng là một chuyện lạ.

                                                                   23/ 3/2011

More...

Đọc "Gió heo may" của Lê Thiện Trác

By Từ Nguyên Tĩnh

          Đọc Gió heo may(*) của Lê Thiện Trác

 

 Nhà văn Lê Thiện Trác với tôi là một "bí hiểm" trên văn đàn Xứ Thanh. Ông viết không nhiều Kỷ yếu Hội văn nghệ Thanh Hóa ghi: "Những tác phẩm chính đã công bố tập truyện ngắn Thử thách tiểu thuyết Kỷ niệm thời son trẻ tập truyện ngắn Quảng trống đời người"...Ông sinh năm 1931 là Hội viên sáng lập hội( 1974) và trên tay tôi là tập truyện ngắn: Gió heo may dày 170 trang NXBTH 2010. Như vậy là 19/5 này ông vừa tròn 80 tuổi tôi định nói bài viết này để mừng thọ ông nhưng lại ngại nó không êm tai.

 Nhìn ở  ngoài đời Lê Thiện Trác có vẻ "đạo cốt"- rất dị. Tóc bạc từ thủa nào không ai nhớ mắt còn sáng nhưng không "sòng phẳng" như thời trai tráng. Da hồng hào màu rượu thuốc cái giọng rủ rỉ khiêm nhường sẵn sàng dừng lời cho kẻ nói chuyện với mình bơi lên giành phần thắng. Cái dáng vẻ chậm chạp ấy chứa đựng sự tinh thông chuyện đời và bao lẽ phải trái...Những năm tháng nào ông về văn phòng Hội rồi ông rời Hội về vùng quê Thiệu Giao nổi tiếng "gồng ghánh xuôi ngược giang hồ" với nghề thu gom lông gà lông vịt và mua bán đồ nhôm đồ đồng. Chỉ lần đi trại sáng tác tại Vũng Tàu năm 2002 mới có điều kiện chén tạc chén thù với ông. Mới nghe ông rủ rỉ về chuyện đời và chuyện văn nghệ. Hóa ra ở caí vẻ lù đù củ kỹ kia là cả một kho tàng chứa đựng về ông nọ bà kia; ông nhà văn này nhà thơ nọ lúc hàn vi và khi có cơ mở mày mở mặt. Một điều nữa ông nhận xét về người và văn cũng rất dí dỏm biết mấy cha khoác cái áo "bằng cấp "chắc gì đã có được cái từng trải ấy...

Nhà văn ngoài cái trời phú cho còn một yếu tố nữa không kém phần quan trọng là điều kiện. Cái điều kiện ấy chia không đều cho mọi người nếu có tài mà anh không thành thì cũng oan uổng. Điều kiện đôi khi cũng giết dần mòn một đời văn. Đội ngũ những người về cái văn phòng Hội văn nghệ Thanh Hóa: Lê Sĩ Oanh Mai Ngọc Thanh Hà Thị Cẩm Anh Anh Chi Lê Thiện Trác Văn Đắc Kiều Vượng Vương Anh Lê Xuân Đức Nguyễn Sơn Hà Từ Nguyên Tĩnh Mạnh Lê Đặng Ái Nguyễn Văn Đệ... Và nhiều người khác nữa đa phần họ cũng vào được hội trung ương. Người nổi danh người bình bình nhưng phải nói "cái nôi" ấy có nhiều đắng đót nhưng cũng là kỹ niệm của đời công chức. Lúc rưng rưng men rượi thì cảm động mà có nhời mang ơn khi dửng dưng thì nói lời dửng dưng...Lê Thiện Trác biết nhiều chuyện đời và chuyện người chuyện nơi "ngôi nhà" của chúng ta. Ông kể không phải giọng hằn học oán giận một ai mà với vể hài hước có duyên.

 

*

 

 Tôi được đọc của ông truyện ngắn: Ông già mù bên giòng sông đen ở trại sáng tác Vũng Tàu năm 2002. Tôi nhận ra suy nghĩ của Lê Thiện Trác "có vấn đề". Cuộc sống lam lũ nuôi con và nuôi cháu với đồng bạc chế độ ít ỏi vẫn không nguôi ngoai trong ông sự nghĩ ngợi về thân phận con người trước cái đắng đót của cuộc đời thiếu sự công bằng sự bạc đãi với người có công đem cả tuổi thanh xuân dấn thân vào cuộc chiến tranh đầy máu nước mắt và nhận lấy sự hy sinh...Phía sau cái mặt chính của sự anh hùng ấy có kẻ núp dưới "cái mặt nạ" khi lộ mặt dưới chiêu bài đạo đức lúc khoác áo "quan phụ mẫu" cướp công lao của người khác... Trong một gia đình có vể gia giáo đạo đức thế kia mà đến đám tang mẹ cũng chia ra tiền phúng của cơ quan ai người đó nhận. Xong đám tang tính xem chi hết bao nhiêu tiền cơ quan của người nào "trả nợ" người ấy lấy. Ông bố (ông già mù) là người chạy "loạn" lên đồng rừng nơi sông Mực gặp may. Ông lấy được một người vợ đẹp người giỏi nết đẻ cho ông năm người con trai đều học hành tử tế cả dâu con vị chi là một chục cán bộ trí thức ở thành phố. Con cả đang tu nghiệp ở Hoa Kỳ con dâu cả là Tổng giám đốc một công ty to ở Hà Nội. Nhưng trời bắt tội người vợ rất đỗi yêu thương của ông một đời lặn ngụp cùng ông nơi sông Mực cào hến nuôi con. Nhưng do sự ác độc ý thức và vô thức của con người mà dòng sông ấy thành sông đen. Nước sông đen ấy làm cho mắt ông thành mù lòa. Ông cô đơn nơi căn nhà hai tầng ở đồng rừng. Đó là thành quả của chiến công anh hùng mà thằng cả được đơn vị kéo về rầm rầm như công trường làm để thưởng cho. Là sự kiện động trời nơi miền quê yên ả và có vẻ hẻo lánh bùn lầy nước động. Tang vợ xong chị dâu cả dúi cho ông bọc tiền năm sáu chục triệu. Ông giàu. Một nhân vật là Lan dở điên dở khùng quá lứa. Ông thì xua đuổi vì sợ do ám ảnh cái đức hạnh chung thủy mà người vợ quá cố nằm xuống chưa khô nước mắt. Người đàn bà kia lại được trả công làm kẻ nấu cho ông ăn (thời đó chưa chiếu phim Nhựt nên nàng Ô sin chưa là vinh danh những người làm thuê kiểu này chưa xuất hiện). Tôi nhớ bản thảo lúc Lê Thiện Trác đưa đọc là cô Lan đi thanh niên xung phong lỡ lứa. Lúc in trong tập chắc đắn đo mà không để lại cái lai lịch ấy(?). Một đêm mưa gió sẵn rượu phúng viếng cô Lan ngâm thuốc một vại hai người: Ông mù và Lan cùng say khướt họ đã cùng ăn con "cá rán" với nhau. Cô gái điên khùng ấy lúc nãy ôm ông và nói xin đứa con. Rồi lại bảo với ông nói đùa đấy. Ông ân hận vì trời cho ông niềm hạnh phúc bất ngờ. Nhưng trên lưng ông lại ghánh nặng đạo đức mà cuộc đời bắt ông chấp nhận. Trong cái ánh sáng mù lòa ấy ông đi tìm Lan thật không may trời vừa có lũ làm sụt bờ sông Mực. Ông bị con sông nuốt lấy. Rồi nàng dâu tìm về chồng bà ta-con trai ông bị tai nạn máy bay khi về nước. Hỏi chính quyền người ta cũng không biết ông ở đâu. Chỉ biết ông mù trôi về cái bến Cát có người đàn bà nhận và chôn cất.

Ông Lê Thiện Trác nhìn thấy sự đổ vỡ giá trị đạo đức trong các gia đình gọi là đang phất lên trong xã hội bấy giờ...Tiếc thay cái day dứt ấy khi giờ G ông chưa xuất hiện kịp đại loại như " đêm hôm ấy đêm " hay ...những truyện ngắn của "bước qua lời nguyền". Đó là tôi nghĩ vậy. Còn bao dụng công gọt rủa cấu trúc và dĩ nhiên là truyện của phần lớn những cây bút xứ mình vẫn cấu trúc theo truyền thống...Truyện Lê Thiện Trác lại chậm so với lúc rầm rộ các cây bút bứt phá ấy ra đời hơn những mươi mười lăm năm trời...Đó là cái thiệt không chỉ riêng ông mà cả chúng tôi khi neo lại ở vùng quê này để hoạt động và viết lách...

 

*

Chỉ vỏn vẹn có 9 truyện ngắn thôi nhưng bối cảnh mà Lê Thiện Trác đề cập  nhiều vấn đề nhức mỏi của xã hội mà được gọi là "cơ chế thị trường" và cái cách cán bộ bắt chước nói theo nhau đồng thuận như con vẹt mà không hiểu được ý nhĩa thật của câu nói. Lại một lớp người ăn gian nói dối nói dối lừa gạt như là "cái sướng" của một đời. Chuyện xuống cấp của giáo dục (Ngày mai lại bình yên). Ông Hành hót rác cho khu phố chưa đầy hai trăm mét để có tiền cho cháu gái có tên là Hẹ mà cha nó học giỏi được đi du học ở nước ngoài nhưng do sụp đổ của Tường Béc Linh sống tị nạn ở xứ người. Nhưng đoạt giải cao nhất tỉnh Hẹ nhập trương chuyên ở tỉnh mà không được nhận với lý do chậm. Thực tình thì cái ông phòng giáo dục huyện thông đồng với bưu điện huyện cố tình làm chậm để họ đưa cháu con vào thế chỗ. Để kiếm cái chức. May mà có bà Lê là Thẩm phán vì chống tiêu cực mà về hưu. Hẹ mới được bênh vực.( Tôi cứ nghĩ nếu ông Lê Thiện Trác mà không kiếm được bà Lê thì chả hóa ra những thân phận như em Hẹ chịu ngậm ngùi lắm thay?).Đói là truyện ngắn đề cập các bà mệnh phụ của những quan chức công ty mà chồng kiếm ra tiền ào ào có bồ nhí nhưng chán cơm nhà. Con cái thì mất nết tiêu tiền vô tội vạ hỗn láo với cha mẹ và người trên. Đang trượt dài trên con đường dính vào tội phạm. Họ tụ tập lại chơi bài và bộc lộ cái khổ vì có nhiều tiền nhưng cuộc đời thật vô vị và nhàm chán! Luật sư làng Ngã ba đời Người đàn bà nghiện rượu Dòng sông chảy ngược... Là những truyện chắc  Lê Thiện Trác không ít ngẫm nghĩ về thế thái nhân tinh trần gian đen bạc. Bà Khổng Thị Đáng có con hoang thai người ta đẩy ra cái nhà chứa đồ đám ma để ở cái thời tăm tối có chửa mà không chồng còn bị gọt tóc bôi vôi đi bêu riếu khắp làng. Đến cái tên người ta cũng ghi sai là Khổ Thị Đắng. Nhưng đứa con hoang con Tèo đi Thanh niên xung phong hy sinh mà cái xã nghèo cũng cố gắng lo cho cái nhà tình nghĩa. Không hiểu có thương bà thật không hay lại sợ mấy ông quan trên nhòm xuống quở trách. Đoàn thể đến vận động bà Đắng về nhà mới cho khang trang kẻo tết nhất trên có đi thăm thú các gia đình chính sách. Nhưng thật bất ngờ khi có chiếc xe sang trọng chở Quý bà đài các xuất hiện. Tèo đứa con hoang của bà Đắng chưa chết mà trong một lần chiến đấu ở nước bạn Cămpuchia được người ở bên đó cứu sống và nhận làm con nuôi và lấy ông chồng đại gia về đầu tư ở Việt Nam cùng với người Nhật. Muốn tìm về để đưa người mẹ khốn khổ đi để trông coi nhà cho mình. Bà Đắng nghĩ chán ra dù nghèo khổ nhưng ở lại cái nhà chứa đồ nhà táng này còn hơn bị nhốt làm kẻ trông nhà. Thà mày đừng xuất hiện để mẹ được hưởng chế độ liệt sĩ còn hơn. Trong cái bế tắc ấy bà Đắng gặp ông lão cô đơn có con đi làm ăn đã giàu có để mặc bố lụi cụi một mình. Ông Kỳ (vợ chết) "thổ lộ" chân tình mối lương duyên muộn mằn. Bà Đắng cũng loạn nhịp tim khi nghe lời của lão già rụng răng thổ lộ. Bà Đắng nói:" Xem nào! Đầu ông tóc đã bạc rồi! Để tôi nhổ cho có được không?"Ông Ký ngoan ngoãn cuối xuống mỉm cười sung sướng.

Người đàn bà nghiện rượu và tôi tình huống đang phát triển có vể u mê và huyền bí câu chuyện sẽ khó khăn để tác giả làm chủ ngòi bút. Cả cái chuyện bà ta lập điện thờ để đồng bóng. Lúc say rượu bà ta vật cổ ông bố chồng tuổi 85 ra mà cưỡi lên bụng. Nhưng Lê Thiện Trác lại cho cái anh chàng nhà văn rởm mang danh Băng Tâm xuất hiện và đi "lừa" danh và lừa tiền. Đi rung chuông rung chà nói được cái tệ của nhân danh nhà báo và hội viên của Hội văn bút; nhưng lại cố ý tẻ sang một lối khác chọn cách dễ để kết thúc câu chuyện tác giả cố tình can thiệp vào. Thật tiếc nếu cứ để cho nhân vật đi theo lô dích của sự phát triển nội tâm thì biết đâu là một truyện ngắn lạ. Truyện ngắn Gió heo may cũng thế. Thi còi con người hãnh tiến đã lên đến cái chức to nhất của làng xã. Chứa đựng sự điêu toa bất nhất tới mức lấy hai ba cái xương sườn gãy ra để mà sắm vợ. Đâm bị thóc chọc bị gạo làm cho cả xã hội Bái Thượng Bái Trung Bái Hạ choảng nhau tùm lum. Rồi tác giả mới lấy cái bảo bối là thẻ thương bính giả mà hạ bệ Thi. Ra chăn vịt để lại căn nhà bố mẹ sinh ra mình thành hoang phế. Vậy mà Lê Thiện Trác vẫn thương cho Thi còi chết hẳn thì tội nên ông lại gọi tiểu đoàn trưởng đi tìm. Để làm cho nó cái chế đọ thương tật mà thật ra cũng chẳng sửa được cái tội huếnh nói dối và đạo đức giả mà tác giả có ý định khi vào nhập truyện? Ổ Dòng sông ngược Lê Thiện Trác vẫn thương nhân vật Cường khi ông cho bà Hiền phút hấp hối nói với bà Trầm người mẹ có đứa con vừa bị con bà Hiền giết là nó là con của Cường. Mưa thắng bảy là truyện ngắn đầm hơn cả. Sự éo le đến mức ngột ngạt khi người anh rể (anh Tư) lấy người mà Tôi (người dẫn chuyện) bỏ rơi là cái cô Nghệ ấy.

Phải nói Lê Thiện Trác không ngại ngần khi cho các nhân vật của mình vào vòng lao lý. Vào sự khốn cùng bởi cám dỗ của thời ký kinh tế thị trường sự xuống cấp về đạo đức. Nhưng cũng có lúc ông lại bị cái bao dung của con người- tác giả đưa" sự kiện" vào để can thiệp tẩu thoát cho nhân vật. Gió heo may chỉ gồm chín truyện ngắn nhưng cũng nói lên "cá tính" của Lê Thiện Trác trong tìm toài và xây dựng cốt truyện. Đã tìm thấy được "bí quyết" mở và thắt truyện biết dấu kín cái gút để lúc nào cần kéo cho nó xổ tung ra. Nếu so sánh các truyện thì cái kiểu kết mà ông đưa ra có vể như đã bắt đầu thuần thục. Đọc tập truyện này tôi tự rút ra một điều cho mình. Con đường sáng tạo quả là chông gai. Nhưng kiên nhẫn ngẫm nghĩ viết và ngẫm suy cũng sẽ tìm ra thủ thuật. Thủ thuật nơi người bác sĩ là mổ sẽ cứu người thành nghệ thuật; nhà văn thì cho nhân vật sống chết sao cho hợp lý. Nhưng phải xây dựng hình tượng sự kiện chỉ là thứ yếu mà thôi!

Thật mừng vì Lê Thiện Trác ngoài vẻ trầm lặng ấy là một sự nghĩ ngợi đi tìm cách viết cho riêng mình. Tài năng. Mỗi người là một tài năng hảy chạm vào là lóe sáng. Tiếc thay tập truyện lại có quá nhiều lỗi do đánh máy và đọc mo rát biên tập kỹ sẽ không bị khó chịu khi đọc.

 

                                                                    Rằm tháng giêng 2011.

                                                                              TNT

(*) Gió heo may tập truyện ngắn Lê Thiện Trác Nhà xuất bản Thanh Hóa 2010

More...

Chú Ân

By Từ Nguyên Tĩnh

 

             CHÚ ÂN

                                           Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

 

   Xem ra cách đặt tên theo lối lấy tên của chú làm bắt đầu: Ân- Ngãi- Nghĩa- Hiếu- Chính thì biết tấm lòng chuộng lẽ phải của chú Ân tôi. Vậy mà đời chú lại khổ còn lây sang thế hệ sau. Bọn con cái của chú "bạch vệ" đành rồi nhưng cháu của chú đây thời mà người ta săm soi lý lịch dữ lắm. Hẳn nhiên là không chỉ riêng phần chú mà các thế hệ trước đó là một thống kê "đen ngòm". Trích ngang một đoạn về chú xem nào: " ...Vào Đảng năm 1949 tham gia hoạt động dân quân du kích khởi nghĩa dẫn một trung đội ra cướp chính quyền ở huyện lỵ...năm 1955...1957 đi dân công đắp đê sông Chu được phân công làm thủ quỹ...bị thụt két 1.037 đồng 8 hào tư...bán nhà để trả...bỏ sinh hoạt 3 tháng không nạp đảng phí nên xóa tên..."

Lúc đó tôi còn  nhỏ nhưng cũng chứng kiến người kìn kìn đến dỡ nhà của chú đi. Phần gỗ thì bán cho ai chẳng biết nhưng phần gạch ngói bán cho ông cò Lạc ở xóm để lấy tiền bồi thường. Thời đó mà nói hao hụt công quỷ là tội to lắm. Cái buồn vẩn vơ vì từ nay chú sống ở nơi khác không có người quát tháo anh em tôi tội nghich ngợm ồn ào điếc tai. Nhớ lại một lần anh An tôi làm súng diêm nhồi vào chiếc van xe đạp nổ đi đẹt. Chú Ân tôi lù lù xuất hiện hỏi:

- Đứa nổ điếc tai thế bay?

Anh tôi sợ đẩy tôi lên:

- Thằng Bùi chú ạ!

Chú tôi tát một cái. Tôi sợ vàng mắt. Nhưng không còn nhớ có đau hay không. Trẻ con hay quên chuyện bị roi vọt. Chắc là chú tôi thừa biết anh tôi sợ nên cũng ra đòn lấy lệ. Kể từ "bất mãn" nói như bây giờ chú không sinh hoạt đoàn thể nữa về sống ẩn dật nơi đất Lăng Vua tận bên Bốn Làng. Anh em tôi cũng ít qua. Cảnh nhà chú chật vật nhà tôi cũng không hơn gì. Nhờ vào bàn tay tần tảo ruộng vườn chợ búa của Thím Lộ vợ của chú. Năm thì mười họa tết nhất mới qua thăm chú gọi là. Trẻ con nên cũng chẳng dính vai trò xã giao gì. Nhưng buồn nữa là người ta đồn tay chú bị sùi trên đầu ngón ăn hết cả móng mà còn bị kéo rụt cả ngón tay lại. Có người lại phao tin chú bị phong hay hủi gì đó sợ thật. Anh An tôi lại khác sau này đi lính có dịp về quê là y rằng không thể không qua biếu chú khi chiếc áo Tô Châu lúc chiếc mũ cối. Thày tôi mất sớm nên chỉ còn các chú là chỗ dựa tinh thần. Nhìn thấy chú là thấy bóng dáng của cha mình. Anh tôi không nói sau này thì tôi nhận ra điều này. Đó là khi cả chú và anh tôi không còn trên đời này nữa.

Thời đó  mà chạy chợ xuôi ngược kiếm đồng tiền như thím Lộ của tôi cũng thật khổ với dư luận. Ngãi con gái đầu của chú đi công nhân tận ngoài Thái Nguyên nên thím cũng ra đó và đèo chè về để bán. Cái gì cũng cấm huống chi là chè Thái. Chịu thím thôi buôn bán chả ra gì mà chú tôi cũng có chè uống và còn có cái nhắm với cút rượu lưng. Sau giải phóng tôi về làng cũng chẳng vẻ vang gì. Là anh binh sĩ thôi nên có gì là khoe với xóm làng chứ. Lại tiếp tục học hành và bươn chải bởi những ngày cam go của bao cấp. Thằng Nghĩa con trai lớn của chú chắc không chức tước gì về phục viên  làm cái chân xã viên đúc gạch. Thế mà đùng một phát hắn đi công nhân Lâm nghiệp đâu tận trên Khao. Lại ầm một phát hắn ùn ùn chở gỗ về chả hiểu sao cái xe ô tô chở gỗ to kềnh lật xuống ao ngay dốc cầu Bàn Thạch. Phải thuê xe cẩu tốn cơm rượu mới kéo được lên. Nhiều người bõa hờn cho cái cách làm ăn ẩu của nó. Chú tôi thấy nó kêu thợ mộc về làm nhà gỗ to cồ không tỏ ra vui hay buồn dặn tôi:

- Sau này tôi không còn sống anh phải đe thằng Nghĩa kẻo nó làm ăn ốc chiến nguy lắm! Làm người bình thường cũng khó anh ạ!

Nghĩa vật lợn ra chọc tiết kêu eng éc trong lúc người ta bói không có tí mỡ mà xào mớ rau. Lại đỏ văng mặt lên vì rượu. Lại nhai trầu như bố người ta mà chỉ trỏ cho thợ phải làm thế nọ thế kia. Mà nghe nói còn vợ chẵn vợ lẻ trong khi con vợ lù lù kia đẻ lít nhít một bầy con không chịu học hành. Nhớ lời chú tôi dặn nên tôi đe nó:

- Mày coi chừng kẻo vào tù đấy!

- Em làm chi mà tù mới đày!

Hắn vẫn hít hà khi chiêu chén rượu gạo. Là anh đấy nhưng tôi nào giúp dập được gì cho nó kia chứ? Lúc nó làm xã viên lò gạch người ta hoạnh họe về cái tội cứng đầu thử hỏi tôi ở đâu? Khi thím tôi bị mấy anh phòng thuế bắt vào trong trạm ở Neo vì buôn chè Thái lậu tôi cũng không sao cứu được thím. Nhìn ánh mắt cầu cứu của thím Lộ mà tôi không sao rũ bỏ được nỗi thẹn thùng vì bất lực. Cái nhục nhã là thím tưởng tôi là một ông to làm ngơ trước cái tai nạn của thím. Cả nhà chú tôi bệnh tật cũng chỉ trông vào chạy chọt nằm bờ nằm bụi của thím. Nhiều khi phải cho cả chè vào trong bụng mà làm giả người chửa. Cái anh phòng thuế ân đức thì quát:

- Cái bà kia! Gìa thế mà còn chửa đẻ...mang cái bụng lút mặt...Có đi không đấy?

Hú vía. Thoát nạn. Nhưng đi đêm có lần gặp ma cha ông nói cấm có sai. Lại gặp bà chửa này năm ngoái thì phải. Anh phòng thuế gìàu kinh nghiệm mới đụng khẽ người vào cái bụng lễ mễ của bà ta. Mặt già cấc mà còn bụng mang dạ chửa làm gì không biết. Trời ơi đó không phải chửa mà là hàng. Không phải là hàng thường mà chè búp Thái chính hạng. Thoát được đem về nhà quê một ống bò lãi lắm đấy!

Lại nói chuyện thằng Nghĩa đi công nhân ở Khao. Làm cái anh chặt phá rừng lấy gỗ lạt luồng nứa để chở về xuôi. Thời mà người ta giao chỉ tiêu cho công nhân chặt gỗ chấp đống ở rừng. Người chặt lấy được. Người đo cũng phóng tay. Người chở tùy tiện. Anh nào chặt được nhiều là có thành tích. Đường mòn chở gỗ bằng xe trâu nên mạnh anh nào anh ấy đưa ra bến xe Gấu Xe bò tót chở đi đâu thì chở nhiều khi nhìn bãi gỗ nằm từ đời cố hoánh nào đang mại dần không ai ngó ngàng đến mà xót ruột. Có dịp gặp những "thợ rừng" thủa ấy nghe họ kể mới thấy sự tàn phá vô tội vạ của con người với núi rừng. Nghĩa đến với núi rừng với hai bàn tay không. Nhưng khi hắn xuất hiện ở quê nhà với chiếc xà cột và xe đạp Phượng Hoàng đại loại không làm cán bộ thì cũng dính dáng đến tem phiếu phân phối cho người ta. Trước đây thím tôi phải chắt bóp lắm mới có hơi hướng mùi thơm bay ra từ căn bếp tồi tàn. Chú mới có tí men để quên đi cái khổ hoặc nhớ đến thời kỳ oanh liệt mà dăn dạy mấy đứa con mình. Cái thằng đeo cái xắc về là y như có mùi xì xèo thơm choang cả xóm. Mà người ta lại còn nói nó có nhà khác đâu ở trên Đồng Chó rồi. Hắn sắm một con vợ có chữ nghĩa hẳn hoi là dân thương nghiệp mới oách chứ. Ông giám đốc có tên là Trư ấy quả là có cái nhìn tinh quái. Sử dụng cái tài tháo vát của Nghĩa và lợi dụng con vợ thương nghiệp để tăng khẩu phần cho công nhân mà công nhân trên rừng ấy ghi tên ai lên đó mà điểm danh? Tiện miệng người ta thêu dệt cho nó thành nhân vật siêu phàm luôn. Rằng nó là lính đặc công có cựa một lần "gác đờ co" cho ông Trư đi thị sát việc chặt rừng. Ông Trư vốn là anh lâm tặc (kẻ bị ông ăn chặn gỗ quý kẻ ghen ăn tức ở với ông thêu dệt vu khống cái lý lịch của ông đấy chớ tin vào) bị hai thằng to dư vòng ôm đè ra định chích mấy vạch dao vào trán để nhớ đời. Nghĩa không tiếc thân mình cho nó một chưởng. Thằng ôm háng thằng xoa khu bỏ chạy một mạch. Nghe chuyện tôi tức cười. Người ta lấy đặc công chọn lý lịch din chứ thằng Nghĩa lý lịch đen mất rồi còn đâu?

Nhưng chuyện nó làm quản lý cho lâm trường thì chắc như đinh đóng cột. Mấy người làng ở trên đó về nói lại. Không ra vẻ khen mà cũng chưa hẳn là chê. Thằng ấy số chó. Được lão Trư nó cho làm cái chân quản lý tha hồ mà ăn gỗ. Lão Trư sắp hết thời sai Nghĩa chở gỗ về làm nhà trước khi về vườn tiện thể hắn chở kèm mấy xe về mở công trường làm nhà. chiến thuật này gọi là "nhờ gió bẻ măng"...

Bẵng đi mấy năm lúc đó tôi cũng có chân trong làng báo làng đài thì hắn xuất hiện. Gian nhà tập thể nên nói là hàng xóm nghe lộ chuyện liền. Nhìn thấy nét mặt càu rạu của nó chắc là chuyện không hay rồi. Tôi dịu giọng hỏi:

- Mi có chuyện chi mà mặt mày khó coi thế hở thằng Nghĩa? Mẹ tôi lúc còn sống có lúc nói tôi cũng giống tính chú Ân. Ông nội cho đi học chữ lười lắm. Đi học võ ai dè lúc khởi nghĩa lại được việc dẫn cả một trung đội bắt quan huyện trói gô lại đến là oách.

- Anh anh không cứu em thì nguy to! Cái thằng lúc bình thường thì miệng gang gan sắt có coi trời đất mấy tuổi giờ nói lí nhí.

- Mày kể thật xem nào...Ăn cắp nhiều không? Tôi giở đùa giở thật hỏi.

- Có chuyện gì đâu...Em làm gì cũng phải có lệnh chứ!

- Lệnh giấy tờ hay lệnh miệng?

Hắn ngập ngừng một lúc mới nói.

- Lệnh miệng...thế mới ngu!

- Biết dại rồi sao?

- Cũng tại em thật thà tưởng mấy tay đồng hương xã ta trên ấy tốt nên mới mời chúng nó đến uống rượu luôn...Ai ngờ cái quân ăn cháo đá bát!

- Hắn viết đơn nặc danh hay là thật ký tên hẳn hoi hả?

- Ký hay không thì cái anh cấp trên họ mà sờ vào thì chết cả!

- Thằng!...Mày coi cái đất nước này là cái chợ hay sao? Chợ còn có người gác nữa là.

- Bố mày...Nghe chú ấy nói xem sao nào! Vợ tôi can tôi thoát ra khỏi cơn thịnh nộ.

Nghĩa cũng cho biết. Tay Trư về vườn rồi. Bây giờ cánh khác lên mới lật tội cũ. Lúc hắn đương chức thì xu nịnh bây giờ mới lật lá tìm sâu. Cộng với mấy người anh em cùng quê bữa trước chén tạc chén thù bây giờ viết đơn lên Ty ghi rõ ăn uống ở đâu mấy bữa rượu mấy xe gỗ...Kiện cho nó vào tù cho hết khệnh khạng. Cái ngữ ấy có vào bóc lịch hết đời. Hừ có anh họ làm nhà báo có giỏi thì bẻ cong ngòi bút xem nào? Chắc Nghĩa nó nói thật chứ không có mẹo khích tướng cho tôi bực mình.

- Anh ơi! Anh có quen được ông to nào không? Hắn hỏi làm tôi phát tức.

- Này! Cái họ nhà mày không ai rủ đi hoạt động cả đâu. Chỉ thiếu chút nữa là tôi nói tệ đi dân công đi bộ đội cho thành binh sĩ ...vv và vv...

Nghe hắn nói tôi cũng kiểm lại xem mình có quen ông to bà lớn nào không. Tệ thật người ta có dịp quan hệ là cứ sán lại mình thiếu chi lúc họp hành ít ra là có cái bắt tay có lời chào xã giao cười ha hả lúc nào nhớ sang chơi nhá. Hóa ra chưa biết đầu cua tai nheo thế nào mà định tìm ông to bà lớn để tẩu tán cho nó thoát tội lỡ nó ăn cắp thật thì sao?

- Mày nói thật đi nào...Xớ của nhà nước đến mức nào? Mấy xe gỗ bao nhiêu tiền bao nhiêu tạ thịt bao nhiêu súc vải...Tôi hỏi nó.

- Gỗ thì có...Nhưng cũng chỉ nói bằng miệng...Bãi gỗ tập kết ra đó lệnh của trên cứ thế mà bốc...Anh bảo sao?

- Chã lẽ người ta mù mắt không cử ai về mà gõ vào cột nhà mày hay sao?

- Anh nữa...Gỗ lạt người ta bán đầy ra...Chỉ vài chén rượu là có giấy biên nhận viết tay...

- Thế sao mày không bỏ ra ít rượu mà còn phải nhờ tao hả?

- Em mới gặp ông Khung phó Ty kiêm trưởng ban Thanh tra ông ấy quát...Rõ ràng giấy gọi người ta xuống Ty mà lại bảo là bận.

- Lão ấy có gợi ý cho mày đưa cây gỗ nào không? Tôi pha trò.

- Có thế đã gọn việc! Nghĩa ra vẻ thạo đời.

- Muốn gì anh em mình cũng phải có chén rượu cho nó hạ hỏa. Tôi nói cho nó an lòng. Những gì mày không làm nhất định người ta có ép cũng không được nhận. Nhất là họ mà viết sẵn chú mà ký vào là tong đời đấy...

Cực chẳng đã tôi cũng đành tìm đến ông Khung. Không thân thiết gì nhưng dạo ở "nhà đài" gặp mấy lần. Thời ấy có nữ phóng viên có tiếng là được lãnh đạo yêu chiều. Khung lấp ló vài ba bận đến gian tập thể của nhà đài. Khu tập thể có một lối vào nên cũng dễ cụng đầu nhau. Chã lẽ không chào hỏi. Lại thấy ông Khung cây viết theo mùa nên không mấy mặn mà. Chắc ông ta cũng thấy kiểu tránh mặt của tôi nên khi gặp bất đắc dĩ cũng chào xã giao chiếu lệ. Tôi lại thấy tiếc có dạo anh bạn nhà thơ rủ đi làm cái phim lâm nghiệp ngại sang để chiều lòng. Không chịu luồn cuối đến khi cái phim phát trên truyền hình mới tiếc chịu khó biết đâu cũng kiếm được thu nhập mà dự trữ cho những lúc gặp việc nhờ đến.

 Tôi vào phòng ông Khung kiểu nhà báo đi hội nghị không để cho ai mời mọc.

- Ông Bùi...khỏe không?

- Chào anh Khung...cũng tàm tạm ạ! Trời ạ tự nhiên tôi nghe giọng mình cũng có vể nhờ vã người ta rồi. Sửa thôi tôi lấy chất giọng hài hước vốn trời bắt tội.

- Tôi sang anh cũng là có việc... Lại phạm phải thái cực khác. Tự tin nói chuyện thằng Nghĩa do có kẻ ghen ăn tức ở mà viết đơn tố cáo nó là thiên lôi sai đâu đánh đấy chứ có chức tước gì cho cam.

Khung ngả người nuốt hết khói thuốc lá. Giọng tự chủ và khô lạnh làm tôi giật mình. Tiếc là mình đã chót vào nhầm cửa. Chả bù cho cái cười hôm gặp ở gian tập thể của nữ nhà báo nọ.

- Ông Bùi...Ông là nhà báo nhà thơ...Người ta viết báo chống tiêu cực bảo vệ luân thường đạo lý bảo vệ lẽ phải ở đời này...Thằng Nghĩa nó tham ô gỗ lạt chở về làm nhà...người ta phát hiện anh định bao che cho nó sao?

Ở đời nếu anh mà gặp sự trở mặt và bội bạc đến trơ tráo thì sẽ làm gì. Cho mấy đấm vào mặt kẻ giả nhân giả nghĩa hay bỏ đi. Anh mà đập nó thì tránh sao nổi lao lý và dư luận cái lỗi là phần anh. Nín nhịn thì thành bệnh căn dày vò cả một đời. Chắc chú Ân tôi con người rất hách có chân chỉ huy quân sự cơ mà phải nuốt hận mà về nên cái bệnh tìm nơi để phát ra đó thôi. Tôi nói cùng Khung sau này thấy mình cũng nóng đầu. Liều.

- Tôi hiểu được lời đồng chí nói! Là nhà báo nên tôi cũng đã tìm hiểu...Dư luận nhiều khi cũng thật là quái ác có thể giết chết một người vô tội...Tôi muốn các anh thật nghiêm túc nó mà đáng đi tù thì nên cho nó đi...Tôi có xin xỏ gì đâu? Tôi đứng lên không chào hỏi bắt tay như lúc đến.

 Kể lại chuyện này cùng vợ vợ trách tôi không kìm bớt cái sĩ diện hảo đi. Lỡ người ta mà bắt nó đi tù thì có khổ không. Nghĩa không đi tù.  Nhà nó làm bõ bèn gì so gỗ lạt toàn thứ nòi cho lão Trư bên sông. Nghĩa không còn làm quản lý tay hòm chìa khóa cho lâm trường nữa. Làm cho hắn mất ăn là hả dạ mấy người ở vùng quê này mà. Nhưng may cho nó cơ chế mở ra ba cái tem phiếu không còn làm người ta sợ vàng mắt một thời.

Không chức vụ vậy mà đã khổ huống chi người có chức to con cháu người làng xã tề tựu thì mệt để đâu cho hết. Tôi lại trách cái họ này không nứt nòi ra người làm to. Nhưng người có chức được nhờ vả có cái sướng của nó. Không chức mà bị nhờ vã thì cũng là buồn cười. Anh lại phải mượn cái oai của cọp. Nhưng đằng nào cũng là kiếp nạn mà thôi. Tưởng là hắn yên ổn làm ăn. Ai ngờ con vợ lại bị công ty ép này ép nọ. Bố con nhận cái chợ để quét rõ ràng hợp đồng hai ba chục năm mà tay chủ tịch xã sở tại lại muốn phá hợp đồng để giành cho người nhà. Tôi nói với nó mà buồn như muốn khóc:

- Chả lẽ chủ tịch huyện chủ tịch tỉnh người ta đi xuống cái chợ quê nhà mày để bênh cho thằng con mày sao?

Nói ra vậy tôi  thật không hiểu được cái ao ước nhỏ nhoi của người dưới đáy của xã hội mất rồi. Họ chỉ cần có miếng ăn hàng ngày có nhiều nhặn gì cho cam. Nhưng một tiếng nói khác phủ nhận cái nhận thức có vẻ "nhân đạo" nhưng mỏng manh ấy. Khi nó được toàn quyền quản lý cái chợ này rồi thì muốn bắt chẹt ai mà chả có một bữa nhắm tươm tất. Sau này có nhiều đại gia mở chợ mở siêu thị tôi mới chịu cha con nhà Nghĩa. Ngày xưa nói quét chợ là nhục thì nay mấy ai có tài mà không ôm những cái chợ to kềnh. Những chợ Vòm bên Nga biết bao kiều dân người Việt tị nạn bên ấy để đổi đời thành "doanh nhân" yêu nước. Chợ bên Pháp Đức Zsech...ngay như chợ Đồng Xuân ở Hà Nội chợ Bến Thành ở Sài Gòn thu nạp từ lưu manh đến cộm cán triệu phú tỉ phú.

Không chịu chết hoặc thúc thủ như người cha lắm lý sự mà giàu giận đời. Bởi giàu có nên ông bà tôi đã cho ăn học ông mất thì thày tôi đã cưu mang cùng bà lo cho chú có gia thất. Ở với bà một căn nhà ngói sân gạch mà đến bây giờ trong tiềm thức những người hoài cổ vẫn trầm trồ rằng nó vào loại nhất của hàng tổng này. Nghĩa để lại căn nhà gỗ cho vợ đầu ở quê còn mình thì bám lấy Đồng Chó với chợ búa một thời gian. Hôm thím Lộ tôi mất nó kéo cả đoàn quân đông đúc về. Trong đồ táng có một vòng hoa cái công ty TNHH nó làm Chủ tịch hay Tổng giám đốc gì đó. Cái thằng thế thì thôi. Không chịu cày cuốc không chịu vọc đất cát đúc gạch ngói cũng không chịu chui rúc ở trong rừng góp sức cùng lâm tặc phá cho cạn kiệt rừng rú. Lúc miền núi cần điện hắn mở ra cái công ty cung ứng điện lực cho người đồng rừng. Biết thời thế và không cam chịu người khác đè đầu cũng là phẩm chất của nó xưa nay. Nhưng ngần nấy đứa con không chịu học hành tử tế của nó mà đều đòi làm ông chủ thuê kỹ sư lập văn phòng thì sao nhỉ?

Con vợ làm thương mại khóc tu tu có vẻ là to hơn cả át đi cả tiếng người khác. Tôi cứ nghĩ một điều. Thím Lộ của tôi thật kiên cường; tám chín mười tuổi mà không muốn ăn bám vào đứa nào. Biết người nhà nông cần những thứ thực phẩm rẻ tiền vừa khã năng thu nhập của mình mà vẫn tùng teng khắp xóm trên làng dưới làm cái chuyện mà phòng sở bộ bỏ ra tiền bạc tọa đàm gọi là"lưu thông phân phối" hay "cung và cầu"...hay những mỹ từ nghe ra rất hào phóng. Có gì đâu lúc khá vốn thì ít con cá khô vài bò moi khi cạn tiền thì nấu nước mắm chược màu lá chuối khô coi bộ rất bắt mắt. Đem đi bán hợp với túi tiền ở nhà quê.

Chuyện nhà chú Ân nếu viết tiếp thì còn dài. Đúng với lý luận mà thời đi học được thày giảng. Đại loại mỗi cuộc đời là một cuốn sách không ai giống ai. Biết khai thác thì cũng có những giá trị nhất định. Điềm tĩnh lại thấy có gì diễu mình hay sao? Nếu thế biết bao người xuất hiện trên mặt đất này thì ngần ấy cuốn sách loài người phát ốm bị đánh thuế và bắt phạt đọc sách thay cho ngồi tù. Nhưng may thay không phải điều gì cũng đáng viết cả. Thậm chí ông nhà văn nọ đi tìm nhân vật nơi đầu bờ đầu bụi chứ mấy khi có nhân vật là vai vế và chức vụ to cồ. Nếu phải hư cấu một nhân vật cỡ "doanh nhân" thì bóng dáng có vẻ là kẻ hãnh tiến kiểu trưởng giả học làm sang hoặc kiểu xu phụ khen phò mã tốt áo. Vậy là chú Ân tôi vẫn là khác người. Khi ông thấy mình không làm gì tác dụng cho đời nữa thì bỏ tất cả về ăn bám vào vợ. Chú không như Tú Xương bảo làm thơ vịnh cảnh bần hàn. Có thật chú tôi bị kẻ gian ăn cắp tiền của người đắp đê không. Không phải là trong chuyện người xưa viết là ăn chặn của bọn bán mặt cho đất bán lưng cho đồng. Mà phải bán cả ngôi nhà ngói mà ông bà để lại cho đứa con út của mình. Mấy người anh em trong họ còn nói cả quyết với tôi: Dứt khoát ngôi nhà của bác Ân ta có ông tướng của quân khu từng ở đấy! Có phải còn...thì bây giờ cũng được xếp loại chứ chả chơi!

Chú tôi phải đền tiền. Không chịu được điều tiếng của người đời mà quay về với xóm trại Lăng Vua. Tôi cũng không có tư cách để dám mở miệng ra hỏi chú xem có thật là mất trộm hay chú đánh bạc mà mất ? Nhưng điều này thì có thật chú không muốn con mình vì ít học mà khát bạc tiền làm ẩu làm liều. Tôi tin vào chú khi đẻ ra mỗi đứa con đặt tên là chuộng vào Ân Ngãi Nghĩa Hiếu chính. Nhưng mà con của chú cũng là những đứa thường thôi cả cái Hiếu con gái của chú mặc dù xinh đẹp nết na nhưng cũng chỉ lấy chồng ở làng. Hôm đưa đám thím Lộ tôi nó chào anh. Tôi bảo Hiếu đấy em. Nó cảm động vì người anh bỏ làng ra đi như tôi mà còn nhớ đến. Tôi chạnh buồn vì thời gian tàn phá con người không thương tiếc. Ngày xưa nó tươi tắn vậy nay thì dăn deo về gìa khi ở tuổi năm mười.

 

Đoạn Kết

Nếu không nhắc đến thằng Chính con út của chú thì không nên. Năm 1965 tôi sang chào chú để đi bộ đội nó vừa sinh còn đỏ hỏn. Chắc mãi sau này nó mới biết có người anh con bác là mơ mọng vển vông với văn chương phú lục. Hoàn cảnh anh chị nó bán xới rời quê đi kiếm ăn như trên đã viết. Học hết văn hóa phổ thông nó đành ở nhà không thi vào một trường đại học hay trung cấp nào cả. Chưa lấy bằng tốt nghiệp cấp ba thì lấy ngay cô bạn học ở đồng rừng về làm vợ. Chú tôi bảo nó không đi thi đại học vì tôi anh ạ! Thằng Nghĩa thì khen nó không học thợ nề một ngày mà cầm bay là biết xây liền. Biết đóng bàn ghế đẹp ra phết. Tôi buồn một nỗi bọn tôi do chiến tranh mà thất học đã đành nhưng con của chú cũng không hơn gì.

Cái buồn cùng dòng họ người ta tướng tá xe con xe lớn ngày tết về chặt làng chặt xóm còn nhà mình thì tin hin hẻo lánh. Buồn thì buồn nhưng biết làm sao cứu được khi chúng không tự học lấy? Sống lâu cũng thành lão làng. Tôi kiếm được đất làm nhà. Khi làm nhà mới biết sự cô đơn của cảnh nghèo ít anh em và không thế lực. Cái
Thằng Nghĩa nó chở gỗ lạt khi có thời cơ chả lẽ là đúng sao? Dù muốn hay không cũng cứ về quê xem vay mượn được ở nơi nào. Tôi sang nhà gặp thằng Chính mở xưởng mộc ngay ở mấy cây mít của nhà chú. Tôi nói với nó:

- Anh đang làm nhà mày đóng cho tao mấy bộ cửa...nhưng anh chưa có tiền đâu!

- Vâng! Chả lẽ em biết nghề mà anh cần lại không giúp hay sao?

Nó chở cửa xuống lắp cho tôi...Cả xóm loi thoi mọc lên trên cái bãi đất người ta lấy đi để đúc gạch. Một ngôi nhà mái bằng cửa lim đỏ au. Mấy người bạn hàng xóm đến chơi cứ tấm tắc. Thằng em của anh không đi học ở nhà làm thợ là phải không làm thợ làm sao mà giúp được anh bộ cửa. Tôi không hiểu họ nói thật hay là đùa. Ngẫm lại chú Ân nên dặn tôi mới phải. Tôi hơi bị liều đáng lý ra chỉ nên dùng gạch tro lò là vừa với sức của mình. Thế mà dám làm cả nhà mái bằng mái lệch khổ cả nhà.

Cái thằng Chính. Chả học gì cả mà biết chữa đài ti vi lại mua cả máy đi chiếu phim video lấy tiền nuôi con ăn học. Tệ thật nó sinh một lũ lít nhít dính vào nhau đến lạ. Nhưng may. Lũ con nhà nó nhờ trời học đều giỏi đứa nào cũng vào đại học. Hôm đám cưới cho đứa con gái đầu có người gợi chuyện về chú tôi nào là đi hoạt động thế mà thiệt. Tôi định nói lấy ai mà giải bầy cho chú. Ở nhà thì nhớ rằng nếu về quê sẽ nhắc các em tôi không dưng mà thày bay đặt tên theo cái lối đặt chỉ để mà nghe cho sang cái miệng đâu mà có chí lắm. Nhưng lúc về chuyện nọ xọ chuyện kia bị mấy chén rượu là quên luôn. Chắc chú Ân tôi cũng quyên từ lâu rồi không ai gọi các con liền một lúc đâu.

 

                                                                                       

More...

THỬ ĐƯA ẢNH

By Từ Nguyên Tĩnh

alt

 

More...

Đèn lồng

By Từ Nguyên Tĩnh


     Tết năm nay thành phố treo đèn lồng
   Mỗi nhà  một chiếc rất là ngông
   Định từ chối nhưng thương lũ trẻ
   Thành người cô độc có nên không

   Ngày tết cả phố đỏ lòm đèn mờ ảo
   Chắc ở Trung Quốc không nơi nào đẹp bằng
   Bao nhiêu đèn về Việt Nam không sợ ế
   Dù giàu nghèo cũng một chiếc trước nhà 
 
   Thợ nước mình có làm cũng không đẹp
   Bằng tay nghề truyền thống của Trung Hoa
   Nghe nói có ông quan văn hóa hỏi
   Ai cho chủ trương treo đèn lồng trước nhà
   Thành phố thưa là do tự phát
   Cái đẹp tự nhiên cũng lây ra

   Đèn Đỏ của Tàu kể là độc
   Treo len báo hiệu khách đến chơi
   Nhưng bây giờ thì ai cũng hiểu
   Báo xuân về cho tất thảy mọi người.
   

More...

Bói 2

By Từ Nguyên Tĩnh

 
           Thày bói nói cho mọi người được mọi điều
      Không ai tự nhận là dựa dẫm
      Tai người không thích những điều khó nghe
      Với người thành đạt nói rất dễ
      Kẻ nghèo hèn đoán mãi không ra

      Ngồi với kẻ ác mà thày không đoán biết
      Không phải vì lòng vị tha
      Không phải ngửi thấy mùi của thần chết
      Theo sự xui khiến của đồng tiên

      Ta cũng thích làm thày và xem thảy nói có điều gì là linh nghiệm
      Nhưng mẹ già không nhớ được ngày tháng sinh
      Thày không nói được mà chỉ ngắm nhìn mà phán
      Xấu tốt chi cũng tại mình

      Thấp thỏm chờ điều gì chẳng biết
      Hay đừng chờ
      Ai đem đến cho kẻ vô danh?

More...

Ngày thơ

By Từ Nguyên Tĩnh


        Lúc cầm bút
    Bắt đầu là làm thơ
    Đọc lên ngang như văn xuôi
    trục trặc
    Không ngâm nổi
    Nghe không vào
    Cuộc đời không chiều    
    Nhảy vào  Văn xuôi
    Lúc người đời gọi Nhà Văn
    Vẫn không yên nơi đám đông
    nhà thơ véo von cùng thiên hạ
    Không đọc nổi từng chương từng đoạn văn xuôi
    Có nhà thơ còn nói
    như tuyên ngôn nghề 
    thơ là rượu còn văn xuôi là cơm
    Ta lại nói
    cái gì thơ không chạm tới gọi văn xuôi đến kéo cày
    Thơ năm nào cũng có một ngày
    Nhà văn đến để Vỗ Tay

More...