Sign up

Sự ám ảnh trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

nguyentinh | 28 January, 2012 16:23

Lan Nguyệt ( Thy Lan)

Sự ám ảnh trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh (*)

 

       Từ Nguyên Tĩnh là một người lính có tố chất văn chương. Chính những tố chất văn chương ấy đã nhanh chóng đưa ông đến với nghiệp viết một cách tự nhiên. Từ những trải nghiệm thực tế chiến tranh, từ vốn sống của một trái tim thổn thức với cuộc đời đã làm nên những trang văn của ông ngồn ngộn chất hiện thực mà vẫn giàu sức biểu cảm. Người đọc biết đến Từ Nguyên Tĩnh với nhiều tác phẩm đặc sắc như tập truyện ngắn “Mối tình chàng Lung Mù”(1992)- Giải thưởng của Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lựng vũ trang và truyện ngắn “Người tình của cha” đã được dựng thành phim, hoặc như “Gã nhà quê”, “Mùa yêu đương”... Điều này chứng tỏ Từ Nguyên Tĩnh là một cây bút truyện ngắn có tầm cỡ trong làng văn xứ Thanh nói riêng và nước nhà nói chung.

           Tôi vốn rất đam mê đọc sách. Tình cờ, tôi có được tập Truyện ngắn II của Từ Nguyên Tĩnh vừa xuất bản cuối năm 2011. Sự cám dỗ bởi đây là tác phẩm mới của nhà văn có tên tuổi lại là một tác giả Xứ Thanh nên tôi say mê đọc…Với dung lượng 548 trang, thể hiện trong 40 truyện. Càng đọc,  càng thấy tập Truyện ngắn II của Từ Nguyên Tĩnh thu hút: Nó sống động, bề bộn, phức tạp, nhiều nghịch lý và bất ngờ như cuộc sống thực đang diễn tiến, nó lôi cuốn con người ta cùng tham dự vào nhân tình thế thái của một thời đã qua trong sự liên tưởng, ám ảnh gợi ra từ những câu chuyện được kể, tả lại. Nhất là câu chuyện được nhân vật "hồi tưởng" đã tạo nên sự gần gủi, tin cậy. Độc giả cùng hồi tưởng lại quá khứ của mình, trong mối liên hệ với bản thân, gia đình, dòng họ của tác giả. Bằng sự nhạy cảm, tinh tế của một tâm hồn luôn đau đáu với thế sự, với chiến tranh và cuộc sống nông thôn nhà văn đã gieo vào lòng người đọc sự ám ảnh đến kỳ lạ.

Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh (2) gồm ba mảng đề tài xuyên suốt ( Chiến tranh, nông thôn và thế sự), bao trùm lên 40 truyện ngắn của nhà văn. Không đao to, búa lớn mà bằng bút pháp kể tả và dựng chạm khắc; tự sự xen lẫn trữ tình, lãng mạn... những trang viết của Từ Nguyên Tĩnh thấm đẫm tình người, tình đời. Truyện viết ra chân thực, thẳng thắn đến mức trần trụi như cuộc sống đời thường. Chính cái đó tạo nên một phong cách truyện ngắn dung dị, một cái nhìn trực tiếp, sâu sắc vào nhân sinh, thế sự.

    Đọc truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, tôi như bị lạc vào một thế giới những người, những cảnh đời vô cùng phong phú và phức tạp. Thế giới ấy đầy sự ám ảnh. Những ám ảnh do đời sống hiện thực tác giả trải qua đưa lại. Ám ảnh hay là sự đeo bám thường trực, trở đi trở lại của một hoặc một số vấn đề nhất định, khiến người ta luôn trăn trở dù lúc nào, dù đang ở nơi đâu. Ám ảnh chỉ nảy sinh khi ai đó đã qua trải nghiệm hoặc được nghe kể lại. Nhưng cái được nghe kể ấy phải thật ấn tượng mới gây xúc động và in đậm trong lòng nhà văn. Tôi thiết nghĩ nếu tìm hiểu sâu sắc vấn đề sự ám ảnh trong truyện ngắn của nhà văn sẽ khám phá ra giá trị đích thực của tác phẩm.

        Từ Nguyên Tĩnh là một nhà văn có duyên nợ với cuộc đời. Ông trả nợ cuộc đời bằng những trang viết của mình. Có những tác phẩm đọc lên ta gặp sự náo nức của tiếng gọi mùa xuân, của lứa đôi: “Mùa xuân này có em”, “Mùa xuân sẽ về”…cũng có tác phẩm đau đáu một niềm day dứt kéo dài từ chiến tranh cho đến thời bình: “Chuyện người tù Côn Đảo”, “Dịch hạch”, “Phản bội”…Những con người, số phận đi vào trang văn của ông với tất cả sự trở trăn và được tái sinh để làm nhiện vụ cao cả là cảm hóa con người, hướng con người đến cái thiện, xây dựng lẽ phải, lòng nhân ái. Tập truyện ngắn 40 truyện là cấp số nhân của 40 mảnh đời trong cuộc sống này. Mỗi một số phận ông lại gửỉ gắm một quan niệm yêu, ghét, tin tưởng hay bài bác. 

    Bao trùm lên tập truyện ngắn là ám ảnh của nhà văn về một thời chiến tranh oanh liệt, hào hùng nhưng không ít đau thương, mất mát. Hiện thực chiến  tranh ấy, tác giả không ngồi viết trên tiếng bom rơi mà trong sự hồi tưởng lại mặc dù vậy không mất đi tính sôi sục của nó. Văn khởi phát từ lòng người ta nhưng liệu có ai đó viết được những trang văn sống động mà không qua trải nghiệm? Chỉ có vốn sống, sự quan sát, thực tế mới có được những tác phẩm để đời. Trong 40 tác phẩm tôi ấn tượng nhất với truyện “Chiếc xe thồ của cha tôi”. Tác phẩm là sự ngợi ca của nhà văn về tinh thần hăng say cách mạng, không quản ngại hy sinh của nhân vật. Người cha có thể vì con, gia đình, đất nước mà đem hết sức lực và tấm lòng của mình vượt qua làn tên mũi đạn của chiến tranh khốc liệt. Truyện nói về sự mất mát hy sinh nhưng không não nề, ủy mị. Sự hy sinh có lẽ vì có ích nên người ra đi cũng thanh thản, "nhẹ tựa lông hồng". Lý tưởng sống đẹp không phải thốt ra bằng lời mà qua cách con người ứng xử với nhau. Hình tượng chiếc xe thồ cũ kỹ vậy thôi nhưng gửi gắm quan niệm nhân sinh quan mới mẻ. Có những thứ người này cho là bình thường, thậm chí cũ kỹ hết giá trị nhưng với người khác lại vô cùng ý nghĩa. Giá trị không phải ở bản thân sự vật mà ở cách người ta sử dụng và ứng xử với chúng. Chiếc xe thồ không chỉ là phương tiện nối hai miền Nam - Bắc mà còn là sợi dây tình cảm gắn kết cha và con, nối quá khứ và hiện tại. Chiếc xe thồ vừa là vật chứng của cuộc chiến tranh vừa chắp cánh cho ước vọng lớn lao của người cha về những con đường, cây cầu mà trong tương lai người con sẽ thay cha xây dựng: “Con biết không, bố đã đọc to thư của con cho anh em đồng đội nghe đấy. Bố nói với các chú ấy bây giờ thì đường xấu nhưng Táo nhà tao ra trường sẽ lo cho bọn mình con đường và cây cầu để đi”. Tác phẩm đề cập nhiều vấn đề hy sinh mất mát nhưng cũng vô cùng tự hào. Đoạn kết là lời của người cha nhắn gửi lại cho con trước lúc hy sinh thật cảm động: “ Con đường ra trận cha đi còn nhiều hố bom, đạn kẻ thù. Nhưng đến đời con thì yên lành...Cha cũng không hình dung ra lúc đó…Cha gửu lại cho con chiếc xe là con thấy hình bóng cha, con giữ chiếc xe này mà đi nhé, chắc đường lúc đó tốt hơn lúc cha đi…” Tác phẩm kết thúc nhưng dư âm của cuộc chiến vẫn khắc khoải trong lòng người đọc.

     Mặt trái của cuộc chiến tranh còn lại trong tâm hồn và nhức nhối trên cơ thể biết bao người thân, người đồng đội của tác giả. Trên trận tuyến Hàm Rồng khốc liệt và Quảng Trị, Quảng Nam cam go… có biết bao người ngã xuống, có bao người không tìm thấy mảnh xương tàn. Những người còn sống cũng éo le không kém. Trong truyện “Dịch hạch” tác giả dựng lại những chi tiết thật cảm động. Đồng đội gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Hai người bạn ôm nhau chỉ ba cánh tay và ba cái chân cũng không cảm thấy bất hạnh. Họ hạnh phúc hơn những người ngã xuống và trân trọng cuộc sống này. Bên cạnh đó còn là những kẻ đào tẩu, những tên phản bội và sự trả giá của cuộc đời cũng được tác giả khắc họa thành hình tượng đại diện cho cái xấu, cái ác cần phải tiêu diệt để nhường chỗ cho cái tốt,  cái lương thiện. Dõi theo con mắt của nhà văn, chúng ta còn nhìn thấy sự khổ đau của người tù nơi Côn Đảo trở về chứng kiến vợ con mình đã thành vợ con của một kẻ phản bội cách mạng. Về với đời thường họ phải ứng xử sao đây? Có nên làm dày thêm nỗi khổ đau của người vợ nữa không? Cái nghịch lý trở trêu, đeo bám vào con người dai dẳng không chịu buông tha. Khổ đau giằng xé tâm gan, anh đối diện với lòng mình thấy còn khó hơn đối diện với bom đạn. Rất nhiều những éo le, những số phận nghiệt ngã trong tập truyện…cứ như con vắt bám vào người đọc. Và còn biết bao những số phận, những mảnh đời làm trăn trở trái tim độc giả trong các phẩm: Phản bội, Nấm mồ biết nói, Chuyện không định kể, Kẻ đào tẩu, Một người lính, Bia mộ…chúng tôi có dịp sẽ khám phá nội dung cụ thể của chúng ở một bài viết khác.

 Cùng với đề tài chiến tranh, ký ức về làng quê trở đi trở lại trong tác phẩm của nhà văn. Ký ức về làng quê có khi nằm ngay trong những tác phẩm viết về chiến tranh hoặc thế sự. Hàm Rồng - Đông Sơn nơi đóng quân và chiến đấu của tác giả trong kháng chiến trở thành máu thịt trong những trang viết của ông. Tôi đọc truyện ngắn “Sự tích một câu hò” ngay lập tức bị cuốn vào cảnh sắc của quê hương mình. Tôi không tưởng tượng ra được, chỉ đến khi nghe tác giả kể chuyện thì tôi mới thật sự thấy cái đẹp quê hương mà trước đó tôi không cảm nhận được. Đó là vẻ đẹp có hồn phách, có sức sống bền bỉ. Chính tác giả đã làm cho tôi yêu xứ sở mình lên gấp bội. Tác giả viết bằng niềm tự hào: “Tôi vào làng Đông Sơn. Những mái nhà bạc phếch gắn vào núi nhìn xa như chiếc lá khổng lồ, dát lên trên nền xanh là đồng ruộng và núi đá như một bức tranh thiên nhiên khảm bằng bạc. Không biết ai đã ví von dòng sông như dải lụa nơi đây, với Hàm Rồng thì thật đúng, đứng ở trên núi mà ngắm từ ngã ba Giàng về Hàm Rồng, dòng sông uốn lượn như một dải lụa xanh, đứng bên phía Bắc từ làng Yên Vực mà ngắm lúc mặt trời gác trên núi tiên, chẳng khác chi con Rồng nằm yên, để rồi bừng thức phun lửa lên trời cao” .Thiên nhiên ban tặng cho nơi đây vẻ đẹp trữ tình và kỳ vĩ. Ở chính vùng quê đẹp đẽ, nên thơ ấy con người hồn hậu, kiên cường càng làm tác giả không muốn rời xa: “Tôi rời Đông Sơn -Hàm Rồng với bao buồn vui buâng khuâng lạ lùng, như thể thiếu một điều gì. Mới hôm qua, làng Đông Sơn còn xa lạ. Hôm nay, Đông Sơn gần gũi, lưu luyến làm tôi băn khoăn thao thức…Số phận biết bao người nằm im trên nghĩa trang Hàm Rồng, biết bao sự tích, cuộc đời, lấy ai mà kể lại…Chúng tôi ở lỳ trong trận địa “ba cây thông” hàng chục năm trời. Người Đông Sơn gắn bó như ruột thịt, có tiến súng nổ là các mẹ, các chị đã có mặt. Lúc ấy cậu Mền đang bé, làm liên lạc cho trận địa chúng tôi. Bị bom vùi mấy lần nhưng Mền nhất quyết xin được chiến đấu cùng bộ đội…”. Hàm Rồng được tác giả vẽ nên như bức tranh kỳ thú: “ Chiến tranh qua rồi nó ẩn mình vào những núi đá thâm nghiêm như ngàn xưa vốn có….Hàm Rồng đây rồi. Nhìn nhịp sừng sững, bắc qua sông Mã, tôi muốn nói bao điều với quá khứ. Rằng những ai đó ơi! Tại sao thế? Lại chọn núi sông này để gửi gắm ước mơ bay lên trời xanh. Tại sao, các vua chúa, anh hùng từ trời cao giáng thế lại chọn nơi đây soi bóng cùng sông Mã?...Ai xui người lính soi bóng cùng pháo trên đồi cao, thả ước mơ vào vũ trụ? Muốn làm một điều gì mà bất lực trước thiên nhiên và mây trời Hàm Rồng. Sự hùng vĩ của núi Rồng, núi Ngọc và dòng sông Mã, nhịp cầu đã vượt lên cảm xúc của tôi. Tôi muốn làm một vài ba câu thơ, nhưng trái tim của cô gái dễ xúc động lần này cũng bất lực”. Có thể nói Hàm Rồng luôn ám ảnh trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh. Không cụ thể, nhiều sự kiện như “ Ký sự Hàm Rồng những ngày ấy” nhưng những trang viết về Hàm Rồng ở tác phẩm “Sự tích một câu hò” in trong tập Truyện ngắn II của ông là những trang viết trữ tình, mượt mà nhất. Có lẽ sự yêu mến mảnh đất quê nhà, cũng là nơi ông đóng quân đã làm nhà văn xúc động mới tạo nên những trang viết có sự đột phá trong giọng văn và ngôn từ như vậy.

          Ký ức về làng quê còn được tác giả miêu tả trong nhiều tác phẩm, chẳng hạn như :Danh nhân của Làng, Thợ nồi đất, Tiếng ta hay phong vị quê nhà…Đó là câu chuyện về những miền quê khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là  nghèo, gian khổ nhưng giàu tình nghĩa, đậm đà phong vị riêng, nhất là nơi đó sản sinh ra những con người góp phần xây dựng quê hương và làm nên lịch sử… Tác giả miêu tả trong tác phẩm “Danh nhân của làng” với ký ức về làng Đống thật cụ thể và sinh động: “Đời dân xã Đống nghèo hèn nhưng tốt bụng. Nấu nồi nước chè xanh chát là ới cho cả làng đến uống xúm. Có lẽ nghề đi rừng tạo cho dân xã Đống thói quen vui với cộng đồng…Có lẽ mai sau không ai nhớ đến anh Bé của tôi đâu. Vì anh đâu phải là danh nhân của đất nước. Nhưng họ nhớ cái cầu ông Bé…Anh là danh nhân của cái làng nhỏ bé này”.

        Trong tập truyện ngắn trên của nhà văn, song hành cùng mảng đề tài chiến tranh, làng quê,  là mảng đề tài thế sự. Đây là  đề tài có khả năng phản ánh sâu sắc những ký ức về cuộc đời, gia đình, dòng tộc, quê hương. Các truyện thuộc mảng này mang tính chất luận đề: Bệnh nghề nghiệp, Trai đò dọc, Ngài Sumôtô, Cuộc đời Tuyết Tuyết, Cơm mới, Bạn tù, Công chức, Thái và tôi…

    Qua khảo sát, các tác phẩm đó đã bộc lộ tính nhân văn, lòng vị tha bao trùm. Từ đó tác giả đẩy mình và người đọc đến sự giác ngộ cuộc đời, chiêm nghiệm cuộc đời.

     “Đổi đời” là câu chuyện mang tính thời sự nóng hổi. Tác giả đã nhìn thấy nỗi khổ đau của những người phụ nữ ở chốn thôn quê phải rời xa gia đình, quê hương để làm ô sin ở nơi đất khách quê người. Cuộc sống nghèo khổ quá khiến người ta quẫn bách, họ ra nước ngoài làm ăn mong sự đổi đời. Đó là khát vọng chính đáng. Nhưng cái làm tác giả cảm thấy đau đời và phản ánh trong tác phẩm lại chính là những mặt trái của nó. Tác giả viết nên những câu chuyện những người phụ nữ làm ô sin ở  Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…nhưng nhân vật chính là những đức ông chồng và những đứa con của họ. Đó là anh Dân, anh Cát, anh Khiển, chú Gia. Họ làm gì với những đồng tiền mồ hôi nước mắt mà người vợ tằn tiện gửi về. Họ ăn chơi, hưởng thụ quên ngày tháng, “sáng ngủ mọc rễ chưa chịu dậy, lúc dậy khệnh khạng rủ nhau đi ăn sáng. Bạn ăn sáng toàn là những người có người nhà đi nước ngoài…Ruộng đất tất nhiên thuê cho cửu vạn nó làm chứ”. Ăn sáng chưa tan cuộc, giờ ăn trưa đã đến, thế là bát mì tôm, đĩa lòng, cút rượu. Họ hát Karaoke, đánh bài ăn tiền, sắm xe, điện thoại mới, trưng diện quần áo, phì phèo thuốc thơm... Cái “bộ tứ” chẳng hẹn mà thành ra thân thiết. Tác giả lên án những kẻ “ăn chơi kiểu công tử không ra công tử, địa chủ không ra địa chủ, lưu manh không ra lưu manh; bằng tiền người vợ phải  lao động quần quật, không kể những bất trắc nơi đất khách quê người. Mới hôm qua, họ còn chân lấm tay bùn. Vậy mà có tiền của vợ từ ngoại quốc gửi về, lập tức rủ nhau chè chén thâu đêm. Đó là chưa kể những đứa con cũng được nới rộng khoảng cách sống của con nhà lao động, quen cách tiêu tiền không do mình làm ra”. Cái cảnh ngộ bi hài được tác giả phản ánh trong tác phẩm đang len lỏi trong đời thực ở khắp mọi miền quê. Tác giả bộc lộ triết lý sống phải biết trân trọng sức lao động của con người và ứng xử với đồng tiền mồ hôi của vợ làm ra cho đúng mực. Tác giả lên án và cảnh tỉnh con người tránh xa thói sống xa hoa ích kỷ, sống phải biết vì người khác nếu không cái sự “đổi đời” không được như đúng ý nghĩa của nó mà chỉ là chỉ là sự thay đổi cùng với sự trả giá mà thôi. Từ sự day dứt của tác giả về một vài số phận trong xã hội, nhà văn hướng người đọc suy nghĩ về sự trái ngang của cuộc đời về một vấn đề nóng hổi.

     Viết về đề tài thế sự, ta nhận thấy nhà văn luôn quan tâm đến vấn đề nghề nghiệp của con người trong xã hội. Nhà văn quan niệm nghề nghiệp  cũng chi phối nhiều đến cuộc sống và tính cách con người. Tôi dặc biệt tìm thấy trong sáng tác của ông những sự lý giải về nghề nghiệp rất tỉ mĩ và mỗi một sáng tác gửi gắm một quan niệm nhân sinh quý báu. Chính những điều đó nên mới mẻ và chiều sâu trong sáng tác của ông. Ta như thấy rõ có một tấm lòng miệt mài đi khai sáng cõi người và lọc tìm những hạt minh châu còn ẩn sâu trong tâm hồn nhân loại. Ta thấy cuộc đời nhiều cái đáng buồn nhưng rất đáng sống và mỗi người phải góp phần mình làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Truyện mang tựa đề “Nghề đặc biệt” là một câu chuyện về một loại nghề trong xã hội. Cách đặt tít truyện khiến người ta tò mò. Nhân vật chính với cá tính và quan niệm bị chi phối bởi chủ quan của tác giả. Từ Nguyên Tĩnh lý giải về công việc thổi kèn đám ma là một nghề đặc biệt để tiễn đưa vong hồn người đã khuất. Từ đó ông đưa ra luận giải “ rằng nghề của gã còn dân chủ, gần gũi với cộng đồng hơn khối nghề khác. Chả thế mà nó đánh thức trong mọi người từ cao cấp đến tiện dân, một sự đồng vọng của người sống đối với người chết, đó không phải là nghề đặc biệt?”. Ý nghĩa của câu chuyện hội tụ trong câu kết, “là nghề gì mà kiếm ra đồng tiền mà lương thiện đều cao quý cả!”. Xoay quanh vấn đề của một nghề mà tác giả gọi là đặc biệt, ông đưa ra tuyên ngôn về đạo đức nghề nghiệp nói chung. Phải chăng đó là cái tài của tác giả. Quan niệm về nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là vấn đề luôn trở đi, trở lại ám ảnh trong sáng tác của nhà văn.

       Giá trị của truyện ngắn II Từ Nguyên Tĩnh là chất hiện thực và tinh thần nhân văn cao cả. Bóng đen của chiến tranh, tội ác và sự ích kỉ đời thường không quật ngã được ý chí và sự vươn lên của con người xứ Thanh, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng… trong quá khứ và hiện tại. Họ được tiếp sức mạnh từ cách mạng nhưng mãnh liệt hơn là sức sống nội tại, tỏa ra từ ánh sáng của lòng lương thiện, tình thủy chung, vị tha của họ. Đó là thứ ánh sáng đặc biệt có sức hủy diệt cái xấu, cái ác trong con người, trong cuộc đời này.

Truyện ngắn  Từ Nguyên Tĩnh II, kết cấu theo truyện ngắn truyền thống, không phải truyện nào cũng thật xuất sắc về nghệ thuật, nhưng rõ ràng là một nhà văn có tay nghề, sự bài bản, rành mạch trong tứ truyện là ưu điểm của nhà văn xứ Thanh này. Nhất là nhà văn tìm được điểm nhấn trong câu chuyện của mình bằng việc xây dựng những tình huống bất ngờ gây xúc động hoặc đặt con người trong những tình huống éo le để nhân vật tự bộc lộ bản chất. Chẳng hạn nhân vật Tùng trong truyện “ Chuyện người tù Côn Đảo” bị rơi vào cảnh tù đầy. Sau ngày giải phóng trở về chứng kiến vợ con mình thành vợ con của một kẻ phản bội. Đó là lúc tính cách nhân vật thể hiện rõ nhất. Tuy vậy, đa số nhân vật trong tập truyện xây dựng có tính cách, tâm trạng nhưng chưa thật nổi bật. Trong tập truyện nhà văn sử dụng nhiều hư cấu đúng như đặc điểm của thể lọai nhưng tác giả có tài làm cho người đọc tin những vấn đề mình kể là sự thật của chính tác giả, người thân, dòng họ mình. Đó là sự khéo léo trong lựa chọn ngôi kể xưng tôi (kể ngôi thứ nhất). Cũng chỉ có ngôi kể này người kể mới dễ dàng đảo câu chuyện không theo trật tự thời gian mà truyện vẫn không bị rối và nhàm chán. Hạn chế của ngôi kể này chỉ hợp với tả tâm trạng chứ không hợp tả cảnh. Vì thế, chuyện ông kể có lúc đọc hơi mệt vì ngồn ngộn những việc, những người. Tuy vậy, với việc lựa chọn cách phô chuyện là tự thuật, kể lại những hồi ức của mình, tác giả đã tạo ra cho bạn đọc sự tin cậy, gần gũi trong câu chuyện được kể lại. Dù cho những câu chuyện có thể của người khác, tác giả qua thực tế hoặc nghe kể lại mà có được nhưng đọc lên ta cứ tin đó là của gia đình người viết. Một đặc điểm không khó nhận thấy về ngôn ngữ ông sử dụng nhiều tiếng địa phương nên chất bản địa trong văn ông khá đậm đà. Câu văn ngắn gọn dễ hiểu nhưng nhiều khi đi theo đường mòn, ít sáng tạo. Nhất là đôi chỗ tác giả bình luận dài dòng, trùng lặp. Bởi vậy sức hấp dẫn của truyện sẽ còn cao hơn nữa nếu ngôn ngữ mới mẻ và uyển chuyển, linh hoạt. Đọc truyện Từ Nguyên Tĩnh ta nhận ra nhà văn muốn vươn đến xây dựng loại truyện không có cốt truyện, hoăc ít nhất là cốt truyện được dấu kín để làm nổi bật tâm trạng của con người. Ông cũng đã thể hiện được khả năng của mình. Không gian và thời gian trong truyện không chỉ là hiện thực mà còn là thời gian và không gian tâm trạng qua cái nhìn và cảm hứng trực tiếp của nhà văn. Sự cố gắng về nghệ thuật của người viết để chuyển tải ý đồ nghệ thuật của mình là điều chúng ta nên ghi nhận. Đó là sự nổ lực hết mình của con người đem hết cả tâm huyết đi tìm văn chương đích thực – văn chương vì con người.

    Nếu ví mỗi nhà văn như một con thuyền, thì con thuyền văn của Từ Nguyên Tĩnh là con thuyền chở nặng tình người, tình đời. Những trang văn của ông không mượt mà như Thạch Lam, không trào phúng như Vũ Trọng Phụng…nhưng nó dung dị, chân thật  như một người chân quê. Chính điều này tạo nên phong cách riêng cho tác giả. Tôi có cảm giác cuộc sống của nhà văn quá nhiều duyên nợ với cuộc đời. Nhà văn gắn với đời giống như cây bám vào lòng đất. Nếu xa rời thế sự, nhân sinh cũng là tự tiêu diệt sức sống của mình. Bởi vậy, khi cuộc đời càng ngấm, càng về sau sức viết của ông càng mạnh. Ông viết như một cuộc chạy đua kẻo cuộc sống tràn vào mà viết không kịp thì thuyền bị đắm. Truyện ngắn II là tác phẩm mới in năm nay nhưng cũng đã có được sự mến mộ và cổ vũ của bạn đọc. Đó là nguồn động viên xứng đáng cho tác giả.

       Sự ám ảnh của nhà văn trong tập truyện do cuộc sống mà tác giả trải nghiệm hoặc được nghe kể mà hình thành. Thông qua tác phẩm người đọc gián tiếp bị ám ảnh về chiến tranh, số phận con người qua hình tượng nghệ thuật. Đó là một thế giới hỗn độn những người, những quê, những đời. Đó là những góc cạnh khác nhau của cuộc sống từ đời tư đến cách mạng, từ số phận cá nhân đến cả dòng họ, từ một miền quê đến những nẻo đường trên khắp miền tổ quốc. Tác giả  tái hiện chân thực và sinh động như họ đang góp mặt trong cuộc sống bằng xương, bằng thịt. Làm được thế khó lắm. Họ có mặt trong văn ông như tất yếu bởi nó được nhà văn hoài thai đủ tháng đủ ngày đến lúc phải sinh nở. Quá trình hoài thai là quá trình gian lao vất vả, phải xây dựng cho nó hình hài và sức sống để lúc sinh nở là đứa con khỏe mạnh. Nhà văn đã làm được và làm rất tốt bằng tài năng và cái tâm người cầm bút.

     Cả cuộc đời nhà văn Từ Nguyên Tĩnh là sự cống hiến hết mình cho cách mạng và văn nghệ. Những sáng tác của ông đã và đang chiếm được tình cảm độc giả với khối lượng lớn tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau. Nhưng người ta vẫn nhớ nhất nhà văn xứ Thanh này trong phong cách một cây bút truyện ngắn.

                                                                                  L.N

 

(*) Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh (II) NXBVH, 2011

 

Trầm tư Từ Nguyên Tĩnh

nguyentinh | 22 January, 2012 14:50

Trầm tư Từ Nguyên Tĩnh

 

                                                                                                              Phạm Ngọc Chiểu

 

Khách sạn Hương Thanh - Sầm Sơn, một sớm cuối thu. Các nhà văn về dự Trại sáng tác văn học do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức hồ hởi gặp nhau, làm ấm sáng lên khu tiền sảnh. Có một người như thu mình lại, tách ra khỏi không khí ồn ào vui vẻ đó. Người ấy đã luống tuổi, vầng trán Lê nin lấn quá đỉnh đầu, còn lại ít tóc vừa thưa vừa xoăn đang bị nhuộm bạc. Hàng ria cũng bạc trắng như tóc được cắt tỉa cẩn thận. Đôi mắt trầm lặng sau cặp kính. Thấy lạ, tôi đến bắt tay làm quen. Mới hay đó là Từ Nguyên Tĩnh, một nhà văn xứ Thanh, đang làm Tổng Biên tập tạp chí Văn Nghệ của Hội Văn nghệ Thanh Hoá. Em biết bác lâu rồi - Tĩnh nói. So với bác, em là hậu sinh nên bác không biết em cũng là phải thôi. Tĩnh nói khiêm nhường vậy, chứ Tĩnh kém tôi có 4 tuổi, còn nghiệp văn chương của Tĩnh đâu có thường. Đến buổi sớm gặp nhau ở khách sạn Hương Thanh ấy, người đàn ông sinh ra từ đất Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá đó đã viết và in 7 tập truyện ngắn, bốn cuốn tiểu thuyết, hai tập thơ, 1 trường ca, 1 cuốn biên soạn. Điều đáng nói là trong 15 đầu sách xuất bản ấy đã có không ít đầu sách người viết được tặng giải thưởng của tỉnh, của Trung ương. Hỏi Tĩnh sẽ viết gì những ngày ở Trại, Tĩnh day day cặp kính lão, thủng thẳng: Em viết chậm, chắc không được như các bác. Trại này, em tính chữa cho xong cái tiểu thuyết “Truyền thuyết sông Thu Bồn.  cũng phải giả nợ Trại một cái truyện ngắn cho phải đạo. Thế thôi bác ạ. Tôi tròn mắt nhìn Từ Nguyên Tĩnh. Hơn chục ngày trời mà làm từng ấy việc viết lách? Vậy mà, người văn xứ Thanh đã làm được những gì anh dự định. Chỉ mấy tháng sau ngày bế mạc Trại viết Sầm Sơn, Từ Nguyên Tĩnh gửi tặng tôi cuốn tiểu thuyết “Truyền thuyết sông Thu Bồn dày 360 trang in, đóng bìa cứng cẩn thận, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, và một truyện ngắn.

Sau ngày nghỉ hưu, tôi và Từ Nguyên Tĩnh giữ liên lạc qua điện thoại. Giọng thủng thẳng, người văn xứ Thanh bảo vẫn túc tắc viết, và đâu ới dự Trại thì đi. Đúng là Tĩnh vẫn gõ máy tính, vì thỉnh thoảng Tĩnh lại Imail cho tôi một hai cái truyện ngắn để tôi đọc và đưa in trên tờ báo tôi có tham gia lo nội dung Chuyên mục Văn học. Nhưng cũng nghĩ Tĩnh viết cho khuây khoả những năm tháng đầu nghỉ hưu thôi. Ai dè một hôm Tĩnh a lô cho tôi, bảo sẽ đưa in (“Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh II”). Tôi chợt nhớ những sách Tĩnh đã tặng. Phải rồi, đã có (“Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh I”) in năm 2006 gồm 45 truyện, khá nặng tay, có sức lôi cuốn người đọc bởi hai mảng truyện viết về nông thôn và chiến tranh chống Mỹ. Cuốn này em in cũng cỡ như cuốn I cả về số truyện, số trang và khổ sách. Bác giúp em cho nó sớm đến tay người đọc nhé. Nói hết câu, người văn xứ Thanh cười, rồi tắt máy. Một tuần sau, bưu tá phường gõ cửa, đưa cho tôi một tập bản thảo dày bịch gửi từ 38, Cửa Hữu, Tân Sơn, Thanh Phố Thanh Hóa.

          Tôi lật một trang bất kỳ. Thói quen đọc sách của tôi là vậy. Cầm quyển sách mới, không mở đọc từ trang đầu mà mở trang nào đấy đọc thử. Nếu trang truyện đọc được, có sức cuốn hút, thì đọc tiếp. Nếu trang ấy đọc không trôi, lật tiếp trang bất kỳ khác, đọc vẫn như cơm nguội thì gập sách, dẹp luôn. Cái trang tôi vừa lật của (“Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh II”), trên đầu trang hiện ba chữ tít đậm   Con ngựa bạch. Mẹ tôi mỗi lần có ai hỏi đến chuyện tôi lại cười hở cả răng lợi ra: - Cái năm lên ba tuổi, thầy bảo con thắp đóm cho thầy hút thuốc lào Giọng kể điềm tĩnh đậm chất thôn quê có gì đó gợi gợi. Thế là tôi đọc một mạch hết truyện. Thì ra là vậy. Chuyện một con ngựa bạch nhưng là chuyện về một thời, cái thời mấy trang lý lịch xuất thân có uy quyền quyết định số phận một con người. Vấn đề này Văn học đã có xáo xới, nhưng “Con ngựa bạch của Từ Nguyên Tĩnh vẫn có nét riêng, tạo ra một xen bi - hài khiến người đọc - nhất là người đọc sống qua cái thời Chủ nghĩa lý lịch ngự trị - không kìm được nụ cười buồn. Khốn khổ, một cặp trai làng cùng nhập ngũ, hồi đi học cùng đói khổ như nhau, nhưng soi lý lịch thì anh chàng Tĩnh có bố từng làm Phó lý, nhà lại có con ngựa bạch, còn chàng Bồi thì nhà nghèo, bố làm thầy cúng nhưng vẫn nghèo, thế nên vào bộ đội Bồi được là đảng viên, ngồi xem xét kết nạp Đảng cho bạn Tĩnh. Bị Bí thư chi bộ dồn bắt phát biểu nhận xét, Bồi buột miệng: Tôi chỉ nghe thầy tôi nói, bố anh ta có con ngựa bạch!... Thế là chết thằng bạn đồng hương rồi! Nhà có con ngựa bạch để mà cưỡi tức là nhà giầu, thuộc thành phần bóc lột, kết nạp Đảng sao được? Sự bi hài không chỉ dừng ở đấy. Đến lượt chàng Bồi, gốc gác cố nông, chiến đấu dũng cảm, từng được ngồi xem xét người khác, nhưng khi bản thân anh ta được xét phong Anh hùng, đã bị ách lại vì ông bố làm thầy cúng, tức là mê tín dị đoan!

          “Con ngựa bạch như thế đã có sức kéo tôi đọc tiếp “Danh nhân của làng, “Thằng Đỉnh, “Thợ nồi đất, “Ông phải làm chủ nhiệm. Rồi đọc ngược về đầu sách, qua hết chùm truyện thôn quê, dòng tộc của nhà văn họ Lê xứ Thanh (Từ  Nguyên Tĩnh tên thật là Lê Văn Tĩnh). Có lẽ, tôi vốn là một người thôn quê, sinh ra và sống hơn hai mươi năm trên đất quê, từng là một thợ cày chính hiệu và cũng từng phải gánh chịu không ít nỗi đau chẳng khác gì những điều Tĩnh viết trong chùm truyện này, phải vậy chăng mà tôi có sự đồng cảm với người viết, thậm chí, đọc truyện xứ Thanh mà có cảm giác như đang đọc lại chuyện làng quê mình, chuyện của chính mình. Tôi đã thấy một người phụ nữ quê tôi vì thương chị, thương cháu mà rồi quá lứa, giống như thân phận dì Bân trong “Ra giêng em đi lấy chồng. Tôi cũng biết một  người  đàn ông yêu thương, gắn bó với đất đai, với nghề tổ của cha ông để lại một cách lạ lùng, không khác mấy ông Nhân trong Thợ nồi đất, nhưng mãi vẫn chưa viết thành truyện được, giờ đọc truyện này của Từ Nguyên Tĩnh cứ ngồi ngẩn ra. Truyện chẳng có gì để kể, không mâu thuẫn, xung đột, mà có sức thôi miên. Bởi cái ma lực gì của nhà văn họ Lê? Vì giọng kể thâm trầm, cứ rủ rỉ đầy ma mị ? Hay bởi những chi tiết có thể cắt ra miếng? Cái chi tiết ông Nhân đang mê mệt, bỗng mở bừng mắt đòi con cháu cho được nhai nắm cháy cơm nấu bằng nồi đất, và nhờ nó, ông tìm thấy vị ngọt, da nồi đất truyền cho ông sức sống, ông bỗng chống tay ngồi dậy được để nhìn khói lò đang nghi ngút bay; và chi tiết lúc ông đã gần đất xa trời, bàn tay bất lực không cầm được cái nồi đất bé xíu lấy từ lò ra, nhưng cố với tay miết vào da nồi, lưỡi chạm vào đít nồi, mắt kịp nhận ra cái màu đỏ lòng đào nơi da nồi - đấy là lúc ông thất vọng nhận ra sự hỏng của cả lò nấu do các con ông làm, nhận ra sự không chí thú của con cháu trong việc nối nghiệp ông cha nữa - thế là ông rời tay, chiếc nồi rơi xuống nền nhà vỡ tan, ông đuội hẳn, ra đi! Đấy là những chi tiết khiến người người đọc ngồi lặng, nổi da gà.

          Tập truyện còn có mảng đề tài chiến tranh chống Mỹ dầy dặn nữa. Từ Nguyên Tĩnh nhập ngũ năm 1965, làm pháo thủ, làm thợ chữa pháo cao xạ bám đất Hàm Rồng sống mái với máy bay Mỹ nhiều năm. Có thời gian (1967 - 1968) được điều lên làm phóng viên thực tập Báo Quân Khu Ba, sau về lại đơn vị làm Tờ Tin và viết sử. Được kết nạp Đảng ngày 27-1-1973. Tháng 11-1975 mới giải ngũ về quê. Quyết chí học lại cho hết cấp 3 và thi đỗ vào khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, học khoá 1978-1982. Cái mảng “Sơ yếu lý lịch vừa liệt kê đã để lại dấu ấn khá đậm trong mảng đề tài thứ hai của “Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh II”. Mảng này có hai cụm truyện: Viết về cuộc chiến bảo vệ cầu Hàm Rồng và viết về con người Quảng Nam - Đà Nẵng thời đánh Mỹ. Bám trụ cùng đồng đội khá lâu ở Hàm Rồng, tận mắt nhìn thấy, tự mình trải nghiệm sự khốc liệt của cuộc chiến đấu đánh trả máy bay phản lực Mỹ, có ý thức góp nhặt vốn liếng cho nghiệp văn chương sau này, nên cụm truyện viết về cuộc chiến Hàm Rồng đủ sức truyền cho người đọc hiện thực gớm ghiếc của chiến tranh qua nhiều góc độ và chiều kích nắm bắt của tác giả. Để lại ấn tượng nhất trong cụm truyện này là “Vô danh. Những người lính được giao nhiệm vụ đứng chân ở trận đại cao xạ giả, hút bom đạn của máy bay Mỹ về phía mình để đồng đội ở các trận địa thật thả sức bắn bọn phi công Hoa Kỳ, và trong tình thế cắn răng chịu trận đó, họ đã bị hy sinh hết. Trớ trêu thay, sự hy sinh đặc biệt ấy của họ lại bị lãng quên nhanh chóng, thành những linh hồn vô danh, vì người đời chỉ nhớ những chiến công, những người trực tiếp bắn máy bay Mỹ (!) Truyện khiến người đọc xót xa, và dư vang ấy ám mãi tâm trí họ. Nhưng tôi thích cụm truyện viết về cái khốc liệt của cuộc chiến ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng hơn. Không gay cấn ùng oàng bom đạn, các truyện “Dì Tư”, “Chuyện người tù Côn Đảo, “Người chồng của em tôi, “Dịch hạch nói với người đọc hậu quả ghê gớm của chiến tranh. Đấy là những éo le, những bi kịch bao gia đình, bao thân phận phải gánh chịu, và muốn giải được những ngang trái đó thật không dễ chút nào. Ba truyện liên hoàn “Dì Tư”, “Chuyện người tù Côn Đảo“Người chồng của em tôi là những truyện hay, không phải vì những cảnh huống eo le của truyện, mà vì tính nhân văn sâu sắc thấm đẫm trong mỗi truyện. Có phải vì vậy mà cụm truyện này có chất lượng  và hiệu quả vượt trội so với cụm truyện viết về cuộc chiến ở Hàm Rồng? Thực tế cuộc sống chiến đấu ở đây tác giả quá thông thuộc đã ào vào các trang truyện, do đó chất ký sự đã lấn át chất truyện, khiến cụm truyện Hàm Rồng ít dư vang.

          Điều dễ nhận ra trong đặc điểm nghệ thuật “Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh II” nói riêng và trong các sáng tác Văn học nói chung của Từ Nguyên Tĩnh, là trung thành với thủ pháp Tự sự - trữ tình. Có sự từng trải trong đời sống lại được học hành chỉn chu, vốn kiến văn sâu rộng, nhà văn họ Lê xứ Thanh tự tin làm người kể chuyện, dẫn truyên. Đọc truyện cứ thấy một Từ Nguyên Tĩnh ngồi xếp bằng trên sập gụ, tay cầm chén rượu hạt mít, nét mặt trầm tư, sau tiếng Khà! thưởng thức chút quốc lủi, ông ta lại trầm trầm cất giọng kể những chuyện ông ta đã thấy, đã nghe, đã trải. Đó chính là nét riêng làm nên thương hiệu nghệ thuật văn xuôi mang tên Từ Nguyên Tĩnh!

          Hình dung đó của tôi có đúng không, hở ông bạn văn mọc lên từ quê hương Lê Lợi, hiện vẫn đang ngày ngày ngự trong ngôi nhà cách không xa chân tượng Vua Lê dựng giữa thành phố xứ Thanh, và vẫn chưa hết đam mê cái thú rung đùi kể chuyện hiến tặng cho đời?!

 

Hà Nội, 25-27-9-2011

                                                                                         P.N.CA

Đón rể

nguyentinh | 22 January, 2012 14:42

Đón rể

                            Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

 

Tết năm nay nhà ông Khoát có chuyện động trời, đón con gái du học từ Mỹ về. Việc đón con gái đi học ngoại quốc về là chuyện vui. Nhưng dẫn về lù lù một thằng rể người ngoại quốc đâu phải chuyện thường. Là người Mỹ hẳn hoi, chả biết nếp tẻ gì ai cũng bảo cái nhà ấy rồi giàu nứt đố đổ vách cho mà coi. Chuyện có con rể, vui đấy nhưng là chuyện bình thường, có gì đáng nói. Nhưng là con rể người Mỹ mới là lạ. Khối người có con rể là Đài Loan, Xinh… nhưng đều da vàng mũi tẹt, ai bàn. Người ta bàn chuyện nhà ông Khoát sính Tây là dĩ nhiên thôi. Ồng là người không bình thường, mà người không bình thường phải chịu cho người bình thường phán xét. Ai bảo ông là người chống Mỹ có lắm thành tích vào. Nay lại thêm chuyện có con gái lấy chồng người Mỹ.

Nhớ lại thời chiến tranh mà không khỏi dở cười dở khóc. Thằng em trai ông Khoát chạy chọt mãi mới được đi du học Liên Xô, ông phải nén niềm vui mỗi khi hắn gửi thư về. Mừng chứ. Chiến tranh bom đạn ầm ầm mà có em đi học ở nước XHCN là tự hào lắm. Mỗi lần nhận thư em gửi về, ông chính trị viên phó, cười phô ra chiếc răng vàng chói từ khóe miệng nói oang oang:

-         Các đồng chí ơi! Lại có viện trợ từ ông bạn CNXH đây rồi!

Ngửi mùi giấy thơm và mực bút bi cũng đã đời. Không cho ai một cái kẹo nào nhưng niềm vui chiến đấu như được nhen lên, thật lạ lùng. Đến lúc em trai viết thư về báo, có người yêu là cô gái Nga, ông Khoát lo vàng mắt. Có phải ngồi cạnh em đâu mà nói. Em ơi! Em có biết nỗi niềm của anh mày đấy không. Người ta làm sao mà sang  đó xác nhận lý lịch của con Tây ấy. Dù là phe mình cũng vậy thôi. Anh mày rồi suốt đời sẽ không được vào đảng đâu em ạ. Ông phải dấu dịt cái thư nó nói yêu con gái Nga đi. Biết được chuyện này, ông chính trị viên phó đại đội cũng là người tốt mới nói. Người ta cấm tiệt chuyện lấy vợ ngoại quốc đấy. Nói với nó cắt đứt đi, kẻo bị đuổi về nước là xong chuyện đấy. Không đả động đến chuyện phấn đấu của ông Khoát làm giật mình lo lắng. Mà đơn vị ông luôn được đón phái đoàn ngoại quốc đến thăm, nó ám ảnh ông suốt. May quá, thằng em không bị xét lại xét bở gì cả, về nước an toàn. Đến lúc nó vào dầu khí ở Vũng Tàu làm ăn, ông mới thở phào, nhẹ người. Nhận được tin con gái báo, dẫn chồng về, ông lo lắm. Phải điện cho chú Đạt nó về để có người mà chuyện trò với cái thằng Mỹ này. Em trai ông kêu bận lắm, còn phải lo dựng mấy giàn khoan tít mù khơi. Mà có bọn hải tặc nó nhòm ngó muốn phá. Ông phải nói khi nói dỗi, có phải chú đi học ở ngoại quốc mới không về chứ trong nước không về mà được à. Đạt nó cũng không vừa, trách anh “khốt” có để yên thì em đã ở nước ngoài, cháu chắt bây giờ ít ra không phải lấy cái anh Tây thực dân. Ông nói để nó nghĩ lại. Bây giờ chú chẳng đã giàu có, xem cái họ này, tổng này có ai bằng. Con cái có đứa nào không được học hành đại học. Anh mày có nó là học hành tử tế. Thực tình anh chị không muốn cho nó lấy chồng ở tận nước Mỹ xa xôi. Thôi em xin bác. Mai kia chắc cả nhà lại bán xới mà sang nước người. Yên được chuyện thằng chú làm thông dịch lại vớ ngay bà vợ. Là kiện tướng ở “cánh đồng năm tấn”, có lúc đã bắt thằng Mỹ ở trên trời cho vào xe trâu mà chở. Lúc ở đơn vị, nhìn thấy tấm hình này in báo, Khoát không kìm được niềm vui đã nói toáng lên:

-       Chúng mày ơi! Con vợ tao thế mà cừ khôi! Dám chở thằng xâm lược trên chiếc xe trâu kia đấy.

Vạ miệng, có đứa không ưa bảo. Để có ai đi thẩm tra lý lịch hỏi xem có đúng hay không. Thái độ khoe khoang cũng là mầm mống của chủ nghĩa cá nhân đấy. Bây giờ lại chính người nữ dân quân, kiện tướng kia giở quẻ với ông. Con nó bảo, anh ấy là người Mỹ, cha có lái máy bay oanh tạc ta trong thời kỳ chiến tranh. Mẹ và bố cũng nên cất chiếc ảnh phóng to kỹ niệm một thời đi cho con nhờ. Bà vợ của ông không phải là vừa. Tay chống háng nói dõng dạc. Mặc xác nó. Tao không thể trút bỏ lịch sử hào hùng của mình vì chiều lòng bọn khốn nạn. Ông lại phải vỗ về. Rằng bây giờ người ta cất bỏ hận thù vào quá khứ rồi bà ơi. Mình chiến đấu vì cái gì nào. Vì Tổ quốc và dân tộc này nhưng có phải là vì con không. Chúng nó cũng không ở đây lâu đâu. Không nói là phương tiện và văn minh gì. Văn minh mình có thua kém anh nào. Phương tiện thì nó nói rồi. Không thể để cái toi lét, ngồi chồm hỗm như sân khấu ấy. Mà phải làm tự hoại, bỉnh là có nước hoa phả ra, nó sẽ gửi tiền về. Tưởng là bà vợ xiu lòng, vùng vằng xỉa xói. Nó ở mấy ngày mà làm như thế. Chúng nó đi, tôi và ông làm sao mà kham nổi cái nhà xí bằng tiền cả vài ba cái xe máy ấy. Căng thẳng đấy. Ông gọi thợ làm, mặt bà ấy cũng giản ra. Đằng nào cũng là con gái yêu của bà ấy. Nhất cái làng này chứ chả chơi. Có lẽ chú Đạt đã làm cho bà ấy dịu lại cơn tam bành. Cái con Hường nhà này cũng là đứa lắm chuyện. Cứ Lê Thị Hường mà gọi, lại làm cho mùi Tây bộn lên. Linđa Hường là cái chi mới được chứ. Nhưng đất không chịu trời thì trời đành chịu đất thôi. Nó phắc về cái mẩu làm giấy mời thì cứ thế mà làm. Cái tên Linđa Hường và Alếch bay đi trong cái làng Khoai này. Nó dặn tới dặn lui. Bố cứ lấy tiền tiết kiệm dưỡng già của bố mẹ ra mà mua biếu bà con nội  ngoại cho con một bộ com lê. Đàn ông thì một bộ và đôi giày da, đàn bà thì một áo vét kèm một chiếc khăn san. Vợ ông chửi, tố bố cái con phá của. Nó muốn xong việc bố mẹ dắt nhau ra đồng mà ở sao. Bây giờ đồng áng cũng có chủ chứ không còn cồn hoang chó ỉa như ngày nào. Khổ lắm, chuyện người họ thì ai cũng vui vì lần đầu tiên mặc đồ tây. Chịu cho chú Đạt, bay từ Vũng Tàu ra làm một thùng tướng quần áo. Miệng không ngớt lời khen:- Con này! Khá hơn cả chú mày. Xưa chú đi học ở ngoại quốc về chỉ biếu được anh em họ gần một cái kẹo cao su và một chiếc bóng bay. Bây giờ mày khoác tơ lụa cho người nhà. Đúng là lấy cái thằng giàu nhất thế giới. Cũng có người thì thào vào tai ông Khoát, cẩn thận kẻo chú đó mua hàng thùng để biếu bà con mình. Mặc vào là siđa khắp lượt. Ông quát, làm gì có cái chuyện ấy. Với lại sida nó không lây qua đường quần áo đâu. Khổ nhất lại cũng là bà vợ. Cái món aó xống thì không lo lắng gì. Nhưng cũng phải kiếm cho bà ấy một đôi giày da kẻo thằng con rể nó còn quay phim mà đưa về chiếu cho họ hàng bên Mỹ người ta xem. May đấy, nếu họ nhà trai mà sang thì ông biết xoay sở ra làm sao. Giày cao gót không thể kiếm được nổi. Chân ngoại cỡ của bà ấy có mà ngã kềnh. Có đứa xui, nên kiếm cho bà ấy một đôi kiểu của quân đội hay bán ở các hiệu, bây giờ người ta đóng sẵn. Dẫu thế nào bà ấy cũng là lão đồng chí dân quân bắt sống giặc lái kia mà. Ông Khoát càu nhàu. Chọn lúc nào về không chọn, năm hết tết đến, rét mướt thế này. Chú Đạt cười, chúng nó là nước theo đạo Tây, còn làm lễ năm mới. Về lúc này là may cho anh chị, mùa hè mà về lấy đâu ra máy điều hòa đủ mát cho thằng Mỹ khủng này. Em biết bọn Tây, dù là Nga đồng chí hay Mỹ thực dân cũng kém chịu nóng lắm. Ông Khoát quên khuấy, mình chả tập kích vào mấy căn cứ của Mỹ nóng không chịu được, chúng cởi trần thở như bò.

Xong những việc không tên. Bây giờ bàn đến chuyện làm rạp ở sân. Lo cái món tinh thần cho bọn trẻ. Không tổ chức lễ như bên Tây. Chúng nó dẫn nhau vào nhà thờ nhờ cha cố báo cáo với đức chứa trời, thì cũng phải cho bọn thanh niên nó hát hò chứ. Ai bảo ông cho con gái đi lấy Tây. Cũng phải sắm mấy cái băng Rốc và Ráp kẻo nó nói dân mình lạc hậu, nhạc người ta hét trên khắp cả thế giới này. May quá là may mấy đứa cháu trong họ làm ở khu công nghiệp lớn ở trong Nam ngoài Bắc về đều biết những thứ trời hành này. Chuyện ăn uống thì sao. Bà Khoát nói, cũng tiện thể tết nhất nên ngã con lợn ra mà có nồi cháo lòng cho nóng sốt, giã dò rán áp chã, chắc bên Mỹ quân dó cũng thèm món này chứ. Chú Đạt gàn, có mà chúng nó thèm vào mấy cái món đó. Đến ở trong nước mà bây giờ người ta còn mời mấy bà môi son má phấn về nấu ăn nữa là. Không lo, sẵn cái nồi áp suất mà em tặng hai bác dạo nào cho cái chân dò vào là thành súp, cháu nó ăn được thôi. Bà Khoát lo lắng, hỏi:

 - Chả lẽ cái thằng Mỹ trời đánh ấy đã rụng hết răng hay sao ?

-   Bà cũng đừng có ác cảm với người ngoại quốc, bây giờ mở cửa, người ta mà không đầu tư, trông vào mấy sào ruộng của bà, liệu có đủ mà ăn tiêu không?

-   Thì mở cửa… nên bụng con gái mình cứ ểnh ra cho mấy thằng tư bản nó cưỡi. Ông không thấy nhục khi con mình mang nặng đẻ đau đứng xếp hàng ra cho nó sờ mó như xem con lợn có đáng đồng tiền không. Khổ.

-   Con mình được ăn học chứ có phải như những đứa đó đâu!

-   Ông chẳng có lúc nói với tôi hồi đó sao. Ông đi giải phóng cho con người thoát khỏi ách bóc lột và chịu cảnh đọa đày cơ mà!

-   Thôi đi bà ơi! Cái đó nó khó. Gói lại chuyện con Hường nhà mình có được không?

-   Lỡ nó mà không về thì tôi và ông phải ăn đến bao giờ cho hết những thứ này?

-   Chú Đạt đã điện cho nó rồi. Nó lên máy bay chẳng mấy chốc mà vù đến nhà.

Ông bác đầu họ cũng không vui. Chú thử nghĩ mà xem, nhập gia tùy tục cha ông ta nói thế. Bây giờ một thằng Tây nó lấy con gái nhà này, chú bắt cả họ phải nói bằng giọng mũi cả hay sao. Ông Khoát lại phải đả thông tư tưởng cho bác ấy, rằng bây giờ người ta lấy chồng nước ngoài, gì chứ cái sự học nó cũng mở mang ra nhiều lắm. Cháu rể nhà này không phải là lính cưỡi máy bay đem bom đạn đến hủy diệt dân mình mà là giáo sư đại học, biết đâu thuận nó sẽ ở lại giảng dạy ở trường đại học là may. Báo chí chả nói đang muốn nâng các trường đại học lên tầm ngoại quốc đó sao. Ông bác mới bổ vào mặt, chú cũng là cái loại nhiều lưỡi, bữa trước nói ông ba cũng ư, bây giờ nói ông tư cũng gật. Ông Khoát lấy lòng thành ra mà khẩn cầu. Em muốn đem cái vui này đến cùng họ mình chứ nghĩ dài thì chịu thôi bác ơi. Con đường mở cửa để cho các cháu nó đi mà.

Thật may có chú Đạt nhà này Tây học mà ăn nói cũng không kém ai cả. Bạn của nó là Tổng nọ Tổng kia. Đạt nói, anh có cần em mời thêm mấy đại gia bạn em về không. Biết đâu thằng cháu rể người Mỹ chả mở ra đối tác làm ăn chứ chẳng chơi. Ông Phát thối lui. Chú biết tính anh rồi. Ăn non thôi chú ạ. Mình mà làm lớn quá sợ con tàu nó mắc cạn thì trời cũng không cứu được. Anh cũng là loại gặp may thôi. Trên người ta thương nên cũng cho tí chức vụ, làm tròn bổn phận là được rồi. Anh cũng chỉ nghĩ được đến đó thôi chú ạ. Không phải thời thế không mở ra cho anh, tính nhát được thế này là ơn ông trời và ông bà tổ tên rồi. Chú không nhớ đó sao. Khi chú có lời định ở bên Liên Xô, anh buồn lắm. Thế là chú đã quên dân tộc mình vì bơ sữa mất rồi. Lúc đó ai nghĩ đến ra vào đất nước này, đi quốc tế cũng dễ như đi chợ. Anh nói thế cũng phải, nhưng để bán lúa gạo mua cái vé máy bay thì đến em có làm ruộng một đời cũng không đi nổi nước ngoài.

May quá, chú Đạt cho xe ra tận sân bay quốc tế để đón chàng rể. Ông Khoát không khỏi cười thầm. Ngày xưa có người lấy Tây người ta phỉ nhổ, bây giờ có người lấy Tây cho là vinh dự. Có lẽ cái số họ này phải có người lấy Tây thôi. Chú Đạt không lấy được thì nay đến lượt cháu. Chú Đạt nghe anh tâm sự liền cười. Học hành ở bên đó. Cung cách làm việc của họ nó cũng rất Tây. Về nước mình nó dề dà, có khi có chuyên môn giỏi nhưng không được sử dụng, không bằng học ở ta. Nhiều người ở bên Tây vì quá bận bịu làm ăn mà quên mất cả chuyện xây dựng gia đình. Con cháu nhà mình kể là tài đấy. Chú bảo nó gặp may hay sao? Em không nói thế, chồng nó chẳng là giáo sư chứ đâu phải người thường!

Bà Khoát hết đi ra đi vào vì sốt ruột. Sốt ruột bởi bà không tin là máy bay người ta lái trong chiều ba mươi tết này. Có mà ngộ. Người ta còn phải nghỉ để ăn tết chứ. Nhưng khổ như thời chống Mỹ mà bà còn chịu được, huống chi là chờ con gái đi học ngoại quốc đưa chồng nó về. Hơn nữa bà mà mau nước mắt thì có phải phô cái khổ tâm ra cho người ta nhìn không nào. Khổ nhất là cái chú Đạt nhà này bắt bà phải khoác lên cái áo lông thú đắt tiền. Cái áo lông thú dắt tiền mà thím ấy gửi về, như quấn cái chăn, nóng sực. Đã thế đôi giày đen lộp cộp làm khổ cái chân bà quen thả tự do. Đi đứng là đau ê ẩm. Nhưng chả lẽ lại phô ra hai bàn chân Giao Chỉ cho thằng con rể người Mỹ xem. Chị cứ để cho các cháu nó lo, bây giờ là lúc chị phải ngồi mà chờ các cháu nó về. Chú Đạt nói thế, bà cũng hả hê trong lòng.

Bọn trẻ hát hò chừng đã khan cổ và cái bụng cũng đã ngót. Ông Khoát xin ý kiến ông bác đầu họ dọn mâm ra cho bà con và các cháu ăn tất niên. Nói dấu gì họ hàng, cũng chẳng vẽ vời gì đâu ạ, cháu nó học hành ở nước người, mà lại đưa cháu rể về ăn tết cùng họ mình. Có vài mâm cơm rau sạch gọi là thay tiệc. Ông Khoát bồi hồi, cái họ mình không có quan to trong triều chính, nhưng người xuất ngoại thì không hiếm. Cụ kỵ xa xôi cũng mang dòng máu nghĩa khí, theo vua Duy Tân hưởng ứng chiếu Cần Vương mà bị đầy sang mãi Tân thế giới. Mấy ông chú đi lính Pháp sang tận Angiêri, rồi chú Đạt…con Hường nhà này. Gì chứ cái chữ nghĩa không đến nỗi nào thấp kém so với thiên hạ. Đến thời buổi mở cửa này nhờ trời, vào học đại học thì không đến nỗi. Đi lao động bên xứ người kể cũng là đông. Các cụ trong họ cũng không khắt khe chuyện cấm đoán lấy chồng ngoại quốc như Đài, Hàn, Xinh…nhưng lấy chồng Mỹ như cái Hường nhà này cũng là có một. Được cái chồng của nó là giáo sư đại học danh giá của nước Mỹ. Ban đầu thì không phải ai cũng hào hứng cái tin này. Nhất là mấy nhà có con cái hy sinh ở chiến trường. Có thể ngồi cùng mâm với quân nhằm súng vào mình mà ăn cỗ được sao. Nó mới vừa đem bom đạn mà cày xới cái đất này. Ngay cái cầu xi măng thời Pháp đẹp thế mà cũng đem bom đến mà thả. Bây giờ nó mở ví ra ném một ít đô la thí cho cái bụng đói nên mờ mắt đấy thôi. Không phải thế đâu các cụ ạ. Thế giới ngày nay đã phân cực rồi. Ngay anh Liên Xô to đùng cách mạng mà một đêm đã thành tư bản rồi. Cái anh “láng giềng” bữa trước ghét tư bản ơi là ghét. Bảo nó là hổ giấy. Thế mà khôn, lẻn sang Mỹ lúc nào, bắt tay với nó và có tới bốn năm cái hiện đại. Nhoách một cái choán ngôi giàu thứ hai của anh chàng Nhật. Mình mà không mau lên sẽ chậm chân, bị chúng nó cấm vận cho méo mặt. Bây giờ phương tiện thông tin đến tận xóm. Ông Khoát cũng không cần phải giảng giải như ngày nào ông lên bục giảng chính trị cho anh em mà cái dạ cứ tôi tối. Phim ảnh nó cũng giúp cho cả cái làng Khoai này biết nước Mỹ. Bữa trước bị cái dài dòng vòng vèo thì nay cái máy điện thoại nó làm cho hết phải giận hờn nhau. Ngay cả bà Khoát là chiến sĩ năm tấn gộc mà cũng bị con gái nó đả thông cho hổng ruột ra mà hồi hộp chờ cái thằng con rể từ Mỹ sang.

Các cụ lâu rồi mới chứng kiến cảnh ăn uống vui vẻ tha hồ như hôm nay. Nói thật, cái giàu có không ai bảo không kèm cái vui và sang trọng. Ăn uống hể hả không ai phải cắm mặt mà nhìn đĩa thịt lợn đám cưới ngày trước hai lượt mỏng tang, lơ mơ là không kịp gắp. Cái anh nhà thơ nào ở Hà Nội lúc nói chuyện ở trên ti vi là khí phải. Dân mình lo cái đói dài quá. Nghĩ gì đến cái văn minh ở tận đâu đâu.

Nói thế nhưng bụng của nhiều người no rồi lại lo. Cái con Lida Hường nhà này với thằng Aléch nhà Mỹ, vui nó bay sang Thái hay Xinh mà hú hí với nhau thì các cố mừng hụt. Bà Khoát lo quá mà nói ra cùng mọi người cái lo ấy. Ông Khoát cũng không nén được nên hỏi chú Đạt.

-       Chú bảo cái quân ấy có dám dở trò bay thẳng sang Thái hay Hồng Kông mà ăn tết không?

-       Anh yên chí, em mới vừa điện cho cháu. Nó về đến phố huyện rồi!

-       Chả thế chứ! Ông Khoát thở phào như trút được gánh nặng. Chúng nó mà không về thì chốc nữa dù nhạc sống hay chín người ta cũng phải về nhà mà giao thừa.

-       Xe về kia rồi bà con ơi! Không biết ai vui quá mà hốt hoảng reo lên thế. Đám đang hát cũng rất nhạy bén mà im ngay tiếng gào. Không ai bảo ai mà như xếp hàng đón khách quốc tế không bằng. Mà rõ là thằng Alếch này cũng tầm quốc tế chứ chơi à.

Con Hường từ trong xe nhảy ra điệu đàng nhẹ nhàng như dân khiêu vũ. Theo sau nó là một thằng da đen như mực cười răng trắng lóa. Ai cũng chờ xem có còn người khác ra sau không. Vì ai cũng tưởng chú rể nhà này phải trắng trẻo đẹp trai chứ đâu phải đen như bồ hóng thế này.

- Chào cả nhà! Con và anh Alếch về đây! Hường nói ngay để mọi người vui. Ông Khoát đứng cạnh vợ nói khẽ vào tai. Dù tình huống nào bà cũng phải bình tĩnh cho tôi nhờ. Chú Đạt nhà này cũng kịp nói với chàng rể, câu gì đó. Tai ông Khoát ù ù như nghe tiếng máy bay bổ nhào. May quá, ông không kịp nhớ câu tiếng Anh mà mấy đứa học sinh trong họ dạy. Chúng bảo, ông cứ nói:” Henxơ hấp!” (giơ tay lên ) là được.

Ông bác họ, không đi xa khỏi làng mà tỏ ra là hiểu biết, khen:- Tốt!

-         Sao bác lại nói thế! Ông Phát giật mình hỏi lại.

-   Chú không biết đấy thôi. Thằng này da đen, có nghĩa nó từ châu Phi nhập cư vào Mỹ, chắc là không như mấy thằng Mỹ chính quốc đâu.

Ông Khoát hoảng hốt, vì mãi lo chuyện này chuyện nọ mà không kịp cất chiếc ảnh bà vợ ông chở thằng giặc lái da đen trên chiếc xe trâu. Cái thằng Alếch, nó cũng là đứa tốt tính cứ ngắm mãi, miệng luôn nói: - Ôkê! Chú Đạt khẽ nói vào tai ông, nó khen đấy. Anh yên tâm.

Lại vẫn ông bác họ tốt bụng bảo:

- Nhập gia tùy tục. Mấy đứa da đen đá bóng nó được mang họ Việt thì tôi có ý với các chú. Mình họ Lê, không thể cho thắng Alếch mang cùng họ mà sẽ gọi nó là Nguyễn Alếch có được không?

 

                                                                             Tháng chạp 2011.

CHÙM ẢNH ĐOÀN NHÀ VĂN CỦA HỘI NHÀ VĂN VN ĐI THỰC TẾ...

nguyentinh | 12 December, 2011 15:07

altaltaltalt

Không có tên

nguyentinh | 17 October, 2011 14:07

 Những cuộc hội thảo mở ra to và linh đình

 Tham luận nhiều

 Không đọc hết

 Người lên đọc và người được nêu tên

 Có người làm ta bồi hồi nhớ lại

 Có người ta chẳng bào giờ biết đến

 Và có nhiều người bị lãng quên

 mà đáng ra không được làm như thế

 

 Có nhiều người không ai nhớ và không ai gọi tên lên

 Dù áo mũ xênh xang, nói cưới ái ố

 Chỉ có con nợ là nhớ rất rõ

 Những cuộc đi đêm

Thợ nồi đất

nguyentinh | 15 October, 2011 09:32

Thợ nồi đất

                                 Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

 

Ô

ng Nhân bảo con trai kê chiếc chỏng tre ra nằm gần lò nồi. Kể cũng hơi gàn, nhưng biết làm sao được. Vì ông ốm hàng năm nay. Thuốc thang chạy có kể chi, nghe mách thày hay là vớ lấy, ít nhiều cũng mươi thang. Con cháu có lúc đã họp mặt đông đủ bên giường chờ nghe lời trăng trối. Nhưng như có phép tiên ông lại nuốt được cơm và nói được chuyện.

Ông phàn nàn cùng bạn già, ông làm tội con cháu. Ăn đủ miếng, thân bất toại nhưng không chịu chết cho. Ngẫm nghĩ có lẽ đời ông làm điều chi vô phúc chăng? Ông không hề ân hận gì vì ngoài làm nồi đất ra ông có tranh giành chức tước với ai. Không quan tước, không bổng lộc, không ăn điêu nói thừa để con cháu phải chịu tội.

Ông thấy nể con cháu vì không được chết. Nhưng lần này ông cảm nhận được đang lìa xa cõi sống. Đêm đêm ông thức dậy, thấy ông bà ông vẫn xúm lại hỏi chuyện. Những người thân của ông ra đi lâu rồi. Vậy mà như mới hôm qua hiển hiện về, nói chuyện với ông về những ngày thiếu thời, ông là loại lau nhau tập nghề nặn nồi.

Cha ông đánh thức ông dạy. Tiếng chuông nhà thờ đạo gõ ba tiếng rồi. Ông bày hương án ra giữa sân cúng tế, châm hỏa đốt lò nồi.

Cái vui của hôm đốt lò không chỉ được ăn cỗ xôi và thịt gà, mà gói ghém kết quả của công việc mệt nhọc. Làm gạch vất vả đã đành. Làm đất nồi còn vất vả gấp vạn. Biết đánh đấu, thái đất đã có gì là giỏi. Phải tìm được thớ đất nạc, trộn đều với đất có chút cát pha. Nếu nhiều cát quá, nồi thủng mau, người dùng oán trách. Nhưng sử dụng nhiều sét thì sinh ra nổ như pháo rang, đó là thất đức của thợ nồi.

Niềm vui của cha con ông không sao tả xiết, lấy đất mà nặn nên nồi. Từ đất làm nên cái lớn cái bé, cái nồi cái vung đủ kiểu. Cha vẫn tự hào nói với ông, sống ở đời không được ăn miếng cơm nếp nấu nồi đất, không hưởng hương vị kho cà và tép bằng nồi đất thì chết không nhắm mắt nổi.

Chả thế có dạo thằng cả thấy ông yếu nên rước lên Hà Nội để chăm, nhưng ông lại không yên lòng. Ông nhớ nhà quá. Nhưng chung quy cũng chỉ nhớ lò nồi.

Vợ chồng nó phục dịch có thiếu gì miếng ngon, nhưng ông thèm bữa cơm có cà kho tép bằng trách đất. Ông cứ ân hận mãi chuyện lộ ra với con dâu. Nó là người thị thành nhưng được cái tốt bụng. Cứ cười ngất, nói với chồng.

- Bố mình lạ thật! Thời đại người ta đi vũ trụ như cơm bữa mà bố cứ tiếc “nồi đất nấu ốc”. Nó dẫn ông đi chợ Đồng Xuân một ngày làm ông mệt một tuần. Mắt ông hoa lên vì sự giàu có xa xỉ. Trời đất ơi, vải vóc mỏng tang thế kia làm sao chịu được với dân thợ nồi. Cha mẹ ông may mặc bằng vải vuông, nhuộm bằng bùn đen và củ nâu mặc lại bền, đến lúc rách dùng tay xé còn khó. Đằng này, mỏng mảnh nhìn thấy da thế mà con dâu ông cứ nằng nặc đòi mua may bố mặc cho mát.

Ông hoa mắt vì hàng đồ nhôm. Con dâu nó cứ toét miệng ra cười:

- Đấy bố thích dùng cỡ nào con mua, nấu hết đời không hỏng. Ông ứa nước mắt ra vì nghe nó nói mà tiếc của. Công bằng mà nói, thì bụng nó hiền lương. Muốn cho bố chồng sướng nó mới gợi ý. Nhưng ông tiếc đất, tiếc nồi, cái con cái lớn úp lên nhau mới đẹp làm sao. Vợ chồng ông ra ở giêng cũng chỉ toàn nồi đất. Cái nồi nấu ba ống gạo giữ trọn mười năm. Cái hôm vì cạy miếng cháy lỡ tay làm rạn, vợ ông ngồi chảy nước mắt ra vì xót. Mẹ ông biết chuyện đã trách ông là đồ không tiếc của và khen tấm tắc nàng dâu thảo.

Ông nhìn thấy hàng nhôm mà hoa cả mắt, thích thật nhưng bụng không ưng dùng. Dù vợ chồng thằng cả thuyết phục về nền đại công nghiệp nhưng ông không nghe. Ông biết chống chúng nó khó quá. Động cái nó nói Đông Âu, Tây Âu, Tây, Tàu, vũ trụ, vi trùng... ông sợ chúng cười mình lạc hậu, khốt. Nhưng ông vẫn chán cái cách ninh thịt, xương bằng đồ điện. Ăn không dính răng, cứ trôi tuột vào họng. Chúng nó mà được ăn chân giò hầm than nồi đất nhỉ?

Thấy ông mệt nhoài vì dạo chợ, con vợ thằng cả, dẫn ông vào hiệu phở chiêu đãi. Ông phải cố mãi mới ăn hết bát phở. Ăn mới chả uống lạ đời, sao người ta ăn được nhiều thịt quá vậy. Đời ông ấy mà, một năm không quá chục lần ăn thịt. Bữa cơm không quá ba món. Bữa nào có món tép rang cháy bằng nồi đất là ăn cơm không biết no. Con dâu ông như đoán được ý nghĩ ấy nên cứ ép bố chồng ăn. Bố cứ ăn đi, bọn con kiếm được tiền mà. Dân nước mình khổ là phải vì không biết ăn ngon. Một tuần ăn thịt cá liên tục là ốm ngay. Tây nó tẩn tì tì mà có sao đâu. Nó lôi về hai chiếc nồi đất. Thương ông để đâu cho hết, nhưng mà ông giận. Ai đời, có mua một chiếc nồi vồm dùng để chứa nước, và một chiếc nồi to nấu được năm sáu ống gạo. Ông cầm xem đi xem lại chiếc nồi, tỏ vẻ không ưng. Nhưng không nói ra vì sợ hớ hênh, làm mất lòng chúng nó.

Con dâu ông không hiểu được bụng dạ ông, rước về nào cà và tép kho một nồi đầy. Thằng cả lại mời thêm vài người bạn về nhậu, nó bảo có cả món đặc sản nhà quê. Nói vậy nhưng chúng ngồi uống bia lai rai. Ông nghe tiếng nổ đến bộp một cái, con vợ toe toét miệng cười, từ bếp lên réo chồng:

- Anh ơi! Nồi nổ rồi. Mất cả món đặc sản của bố mình.

Ông nghe mà giật thót cả người. Không phải ông tham ăn, tiếc món tép kho cà đâu. Ông buồn vì người đời điêu. Ông nhận ra cái điêu ấy khi con dâu đưa nồi về. Ông lừa lúc nàng dâu còn loay hoay vui vì mua được nồi đất chiều bố chồng, đưa lưỡi vào đít nồi. Ông cảm thấy vị mặn nơi đầu lưỡi... Ông nhớ như in lời của cha dặn. Đừng nên thất đức mà làm hại người dùng, kẻ hám giàu không chỉ làm đất dối trá mà còn hồ lớp nước muối vào đít nồi cho mau nổ.

Ông bảo con trai đưa ông về quê, ông nhớ lò nồi. Ông sợ thằng con rể của ông hám giàu mà làm như người đời. Ông buồn rớt vì nghề cha truyền con nối của nhà ông đã đến lúc suy. Con cái ra thành phố tìm kế sinh nhai. Chỉ có thằng rể và con gái út là cùng ông loay hoay với lò nồi.

Có hôm nó từ thị xã gánh nồi về khóc tức tưởi.

- Bố ạ, không khéo phải bò nghề nồi thôi. Bây giờ người ta dùng nồi nhôm, còn ai thích nồi đất nữa. Ông nghe mà không cầm được nước mắt.

Có một thời vợ chồng ông không dấu đâu hết niềm tự hào. Hai gánh nồi đất đủ loại đi chặt cả đường. Là đất đấy, nhưng ai cũng phải tránh. Cầm chiếc nồi của ông gõ lên nghe như tiếng chuông. Chợ gần chợ xa nức tiếng lò nồi ông Nhân...

Đứa con rể tưởng ông ngủ nên ngó vào sát mặt. Nó khẽ lay vào tay ông:

-    Bố ơi! Nhà con đã chuẩn bị đồ cúng rồi ạ!

-    Thằng cả đâu? - Ông hỏi hơi gắt.

-   Dạ Bác ấy chạy sang xóm nói chuyện với mấy bác bạn là cán bộ huyện về chơi ạ!

- Con gọi nó về cho thày!

Gió từ sông Mã thổi lên mát rượi. Ông thiu thỉu trong mệt mỏi. Hai vợ chồng ông gánh nồi qua đò sông Mã sang chợ huyện... Những chiếc nồi đất đỏ lòng đào, màu trứng gà... Nhà ai cũng háo hức muốn có chiếc nồi kho, nấu những món ngon, ăn đậm miệng mà không thiu... Ông thành người thân thiết với mọi nhà...

Xóm lò nồi sống lại, đó là thời kỳ phồn thịnh. Những năm nồi chở đi kìn kìn. Thuyền đến chở nồi đi xuôi, về ngược. Người đến gánh nồi đi các chợ. Trẻ con dùng nồi sứt sẹo làm đồ chơi. Những mảnh vụn của nồi gài vào gốc chuối, gốc cau như những đóa hoa của đất. Mùi khói lam chiều tỏa ra trên sông, có hương vị thơm thơm của cơm nấu vào nồi đất. Tiếng kéo bát điếu bằng đất sòng sọc như tiếng con sáo hót.

Như sợ mọi việc làm không kịp, ngắn ngủi với đời người, ông Nhân giục con:

- Cúng thổ thần đi con!

Ông nhìn đăm đắm vào những sợ khói hương tỏa ra trong thinh không. Ông tìm thấy sự dễ chịu mỗi khi từng lớp tàn hương rơi xuống. Thời buổi làm cho ông phải nghĩ ngợi đến căng thẳng về các con ông. Đứa thì quá khích, chạy đi tìm tự do, phỉ báng thánh thần, coi thường tổ tông. Chúng chẳng nghĩ đến ngày tết, ngày giỗ họ mà tìm về. Cúng vái lấy lệ, thấy người đời cúng, cũng đốt hương lên mà không thành tâm. Đứa thì quá câu nệ, cúng bái rườm rà, tưởng từ đó tìm thấy vận đỏ đen may rủi. Mù quáng, thay cho bàn tay lao động cần cù.

Sợ các con ông cúng chiếu lệ mà thắp hương khấn khứa. Ông khẽ lẩm bẩm đọc lời cúng. Ông cảm nhận được đôi bàn chân mình đã giá lạnh. Cái chết sẽ đến với ông một sáng một chiều. Ông thương cha mẹ mình vất vả một đời lầm lũi, vọc đất cát nặn nồi. Ông sợ sệt một ngày nào tụi trẻ quên đi, nghề làm nồi sẽ thất truyền .

Mỗi lần nghỉ đến đó là ông Nhân ứa nước mắt vì thương Quan Ngài, không hiểu ngài có giận cái xóm nồi này không?. Người ta kể về Ngài với bao niềm tự hào. Nhắc đến ngài khi tra lửa vào cho lò nồi cháy. Khấn để ngài phù hộ cho nồi tròn, vung tròn... cho ngọn lửa làm chín đất...

Ngài là Quận công, người lo cho nhà vua có nồi dùng từng đội trong cuộc chiến tranh. Ngài đã đem đến cho người lính trận niềm vui khi cuộc đời gian nan trong khoảng khắc giữa cái sống và chết. Cha ông Nhân kể về Ngài không biết chán. Mặc dù là quận công nhưng người ít chữ nghĩa, hết chiến tranh muốn dạy cho con cháu nghề nặn nồi. Ngài lui về ven sông  này tìm đất dạy cho dân biết làm nghề khiêm tốn này nhưng mà đắc dụng. Không phải chịu cảnh ăn uống tùy tiện, sông sít qua ngày.

Ông Nhân ngửi thấy mùi khói tỏa ra từ lò nồi. Cảm giác này làm ông muốn vùng dậy tự tay mình đẩy củi vào lò. Ông không tài nào dấu được cảm xúc khi ngọn lửa liếm vào từng chiếc nồi. Mùi khét của đất bay ra. Ôi, đất chín dần và cũng có vị ngọt  mới lạ lùng. Chỉ cần quá lửa là hỏng cả mẻ nồi. Là toàn bộ nồi lớn nồi bé méo mó, già lửa là biến thành màu sành. Gạch mà chín màu sành thì còn dùng được nhưng nồi thì coi như vứt đi. Nhưng lửa non quá thì đất chẳng nên nồi. Nồi là hình dạng nhưng cứ bở tơi ra và không tài nào dùng nổi.

Vì sự thiêng của nghề, bao giờ cúng châm hỏa cũng phải chọn ngày, chọn thợ mát tay. Cha ông Nhân biết nhìn các con như thày thuốc bắc chọn người kế nghiệp. Cái nóng nảy làm méo đi đến lòng tốt, nhưng sự nguội lạnh cũng làm cho lòng tốt không chín được tới.

- Bố ơi! Con khấn rồi. Nhà con châm lửa vào lò nồi rồi ạ!

-   Thằng cả về chưa con?

-   Dạ bác ấy đang ở lò rồi!

Hỏi con đấy, nhưng thấy con thắp hương là ông đã lầm rầm khấn... Ông muốn được nhìn những chiếc nồi ra lò. Ông muốn tận tay cầm chiếc nồi đất gõ lên nghe công công kỳ thỏa thích.

Gió thổi làm những vạt mía xào xạc. Bệnh mơ màng dở thức dở ngủ làm ông thiếp đi.

Một ngày một đêm trôi qua... Các con ông đến khẽ đập vào tay dâng thức ăn. Ông không tài nào cầm mà ăn nổi. Chúng bón cho ông từng thìa. Chuyển động của miệng nhưng ông Nhân không thấy ngon. Ông không nói được cùng các con cảm giác nhai như nhai đất. Vì chúng chưa bao giờ có cảm giác này. Đời người chỉ nên biết có hai lần thôi. Lúc còn thơ, vọc đất, tưởng đất cũng ăn được và lúc ngáp trút hơi thở cuối cùng về lại đất. Thức ăn cao lương mỹ vị cũng thành vô vị đắng như nhai đất.

Ông cố định thần nói với các con:

- Bố xin các con miếng cơm nếp nấu bằng nồi đất

Ngày thứ hai ông tỉnh dậy. Ông hỏi các con về lò nồi. Thằng cả trả lời nồi sắp chín rồi. Đứa con gái út nắm cho ông cục cơm nếp vàng ươm màu mật. Ông Nhân nhai rời rạc... Ông tìm thấy vị ngọt. Có lẽ từ trong da nồi truyền cho ông sức sống hay sao, ông chống tay nhỏm dạy nhìn khói lò nồi nghi ngút bay.

Nhưng ông không dạy nổi, ánh mặt trời buổi mai chiếu vào chiếc nồi nhôm mà đứa cháu đang kỳ cọ tràn vào mắt của ông. Ông Nhân nằm lã ra, con út khóc nấc lên:

-   Ôi bố ơi! Bố ơi! Bố đừng bỏ chúng con mà ra đi!

Lửa đang liếm vào đít từng chiếc nồi. Ngọn lửa thần bí muốn chín mau để người thợ nồi nhìn thấy lần cuối cùng lúc ra đi trở về cùng đất. Ngọn lửa rừng rực, chỉ người thợ nồi nhận ra trong cái nóng cháy da cháy thịt ấy có sự mát lành, thiêng liêng... Trong ánh mắt ông Nhân có ngọn lửa ấy.

Thế là ông Nhân không dậy được để nhìn mẻ nồi ra đời. Các con ông cuống lên, thúc vội lửa chín mau cho ông kịp nhìn thấy màu hồng đào của nồi. Nhưng lúc vùi lửa ông đã mê man, không còn nhận ra các con.

Họ mạc đã đông đủ, hòm ván được chọn lựa thứ gỗ quý. Tiếng khóc không ai chuẩn bị nhưng tự nhiên cứ trào ra. Những chiếc nồi được xếp úp lại rất khéo. Muốn ông mở mắt ra là nhìn thấy. Muốn ông vui được nhìn và mang đi cái màu ong ong của ruột đất được nung chín. Mang đi tiềm thức một đời cần cù lao động. Nhưng không ai lay giục được ông tỉnh dậy. Người ta bắt đầu nấu nước thơm bằng nồi đất để tắm rửa cho ông Nhân trước lúc nhập quan. Xóm Nồi đã tề tựu xung quanh ông chờ đưa ông đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Như có phép lạ, ông mở mắt ngơ ngác nhìn mọi người. Trí khôn mỏng manh còn lại cho ông kịp nhận ra. Đứa con gái út và thẳng cả kịp cầm chiếc nồi đất nhỏ xíu đưa đến trước mặt ông. Ông muốn cầm quá, nhưng bàn tay bất lực. Mắt ông đã kịp nhận ra màu đỏ lòng đào nơi da nồi. Kìa ông đưa được hai tay lên kìa. Bàn tay ông đang miết vào da nồi. Ông đưa lên miệng như hôn. Lưỡi ông chạm vào đít nồi. Một thoáng trôi qua. Chiếc nồi buột khỏi tay ông rơi xuống nền đất vỡ tan...

Các con ông kịp nhận ra điều ông nghĩ. Lâu rồi không đốt lò nên lò ẩm. Họ chẳng còn lòng dạ nào làm đất kỹ nên nồi không được chín. Họ muốn chiều ông mà đốt đấy thôi. Ngọn lửa không còn sức thần như những chiếc nồi đất thuở nào.

Họ thấy ông nhận ra sự dối trá của mình. Lò nồi hầu như chẳng được mấy chiếc nguyên vẹn.

Sau khi ông Nhân mất các con ông hầu như không làm nghề nặn nồi. Công xá chẳng đáng bao lăm, mới lại nồi nhôm đầy ứ ở các chợ, rẻ mà nấu lại bền. Có mấy người cũng muốn làm nhưng vì làm đất dối, đốt lửa không khéo nên không thành. Xóm nồi vẫn còn cái tên gọi nhưng không ai làm nghề nặn nồi. Đôi người cũng có lúc thèm tép kho cà nồi đất nhưng ai bỏ công ra tận làng nồi xa xôi mà mua. Người xóm nặn nồi bên sông đi làm ăn khắp tứ xứ, mỗi khi gặp một người, xếp nồi trên xe thồ chở đi trên đường, những chiếc nồi xếp chồng lên nhau, dưới cái to trên cái bé, kèm theo nó là những chiếc vung xinh xắn. Lại nhớ chuyện xưa, có ông thần, không phải bằng đồng, bằng sắt, mà ra đến đường người ta đều nể nên phải tránh đi, nhường đường cho những chiếc nồi xuất hiện. Màu đất ngọt ngào như thể là ăn được. Trong đó là niu cơm, niu cà mà mở vung ra đã tỏa mùi thơm ngòn ngọt, mang dự vị của làng quê. Một câu ca từ bên cái xóm nghèo neo đậu bên sông, ai oán:

  Đất xấu nặn chẳng nên nồi

Anh đi lấy vợ để tôi lấy chồng.

Bức thông diệp toàn cầu

nguyentinh | 09 October, 2011 21:51

                     Bức thông điệp toàn cầu

     Sau đây là một câu chuyện nhỏ, nhưng nó lại mang một ý nghĩa và thông điệp rất lớn cho mỗi người đang đọc và cho nhân loại...

Ở Nhật xảy ra một câu chuyện có thực 100% như thế này: Có một người vì muốn sửa lại nhà nên dỡ tường ra; tường nhà kiểu kiến trúc Nhật thường đế một tấm gỗ ở giữa, hai bên trát xi măng, nhưng thực chất bên trong để rỗng.

Khi anh ta dỡ tường ra, phát hiện có một chú thạch sùng đang ngủ ở trong đó, đuôi nó bị đóng vào tường bởi một chiếc đinh được đóng từ ngoài vào trong. Anh này thấy tình cảnh đó vừa thấy thương thạch sùng vừa thấy tò mò, anh ta chăm chú quan sát chiếc đinh, trời ạ! đây là chiếc đinh được đóng khi xây nhà 10 năm trước.

Rút cục là có chuyện gì thế này nhỉ? Chú thạch sùng này đã mặc kẹt trên tường mà vẫn sống được trọn 10 năm! Sống được 10 năm trong bức tường tối, thật không đơn giản chút nào. Có gì đó bất thường thì phải?...

Anh ta tiếp tục nghĩ ngợi, đuôi nó bị đóng chặt, không thể xê dịch được, thế nó đã sống được nhờ vào điều gì mười năm qua? Anh ta quyết định chưa sửa công trình của mình vội, muốn quan sát xem chú thạch sùng này đã ăn gì? Anh muốn nghiên cứ tìm hiểu xem sao....

Một lát sau, không biết từ đầu bò ra một chú thạch sùng khác, miệng nó ngoặm miếng thức ăn… ồ!

Anh ta lặng người đi.

Thế này là sao nhỉ? Vì một bạn thạch sùng bị đinh đóng vào đuôi không thể đi lại được, một bạn thạch sùng khác đã kiếm tìm thức ăn mớm cho bạn trong suốt mười năm qua. Tôi nghe xong thấy xúc động vô cùng và thực sự cũng không nghĩ thêm về mối quan hệ của chúng nữa...

Các bạn ạ, cùng với sự phổ cập của máy tính trong xã hội con người, tốc độ những thông tin mà chúng ta có được từ người thân, bạn hữu, đồng nghiệp, … ngày một nhanh hơn, nhưng khoảng cách giữa con người với con người chúng ta với nhau phải chăng cũng ngày một gần nhau hơn ? … Cho nên đừng bao giờ từ bỏ những người mà chúng ta yêu thương nhé!

 

Hãy gửi câu chuyện này tới mỗi người bạn bạn đã từng tiếp xúc trong cuộc đời này, nhất định phải gửi đấy nhé!

Bức thư này là do giáo chủ khu đạo DE của Nam Phi (Anthony) viết và do Vinilon gửi đi. Vì bức thư này cần được copy lưu chuyển khắp hành tinh cho nên bạn nhất định phải copy gửi cho bạn bè mình, ít hôm sau sẽ xảy ra chuyện làm bạn vô cùng kinh ngạc đó, có thể bạn không mê tín, nhưng đây là chuyện có thật 100%.

Vận may sẽ đến với bạn, chúc bạn luôn bình an và may mắn!

 

Chú Khách (tiếp)

nguyentinh | 30 September, 2011 08:51

Chuyện Chú Khách, là do mẹ tôi kể. Có lần tôi hỏi Chú Khách là chú nào. Có bà con với nhà ta không mẹ. Mẹ tôi đe, trẻ con không lắm chuyện. Thắc mắc ấy mãi sau này, lúc tôi có vợ và sinh con gái đầu lòng, mẹ mới nằm với cháu bé mà kể cho vợ tôi nghe, mẹ cũng muốn cho tôi nghe một thể. Chắc là mẹ nhớ lúc còn trẻ con nghich ngợm có lần tôi chạy theo xe của người bán kẹo kéo, hay một người nặn tò he, tôi cũng không còn nhớ rõ lắm.

- Làng mình không có chùa hả mẹ?

- Không! Mẹ tôi trả lời cùng nàng dâu.

- Làng con ở bên sông có ngôi chùa còn nguyên cả tượng phật, ngựa đá và voi đá, ngày rằm ngày tết lễ lạt to lắm.

- Làng ta cũng có một ngồi chùa! Mẹ chép miệng, có vẻ luyến tiếc. Thiêng lắm! Ngày xưa các cụ nói bên Tàu sai Cao Biền cỡi hạc bay khắp sông núi nước Nam để yểm các long mạch, triệt phá không cho sinh ra những người tài giỏi giúp dân giúp nước, dẹp giặc ngoại xâm. Cao Biền xây một ngôi miếu cạnh ngôi chùa để yểm mà không làm gì nổi. Cũng lạ, một năm gặp lũ lụt to lắm, nước sông dâng mấp mé bờ đê. Nước ngập vào cả sân chùa mà sóng không cuốn nổi, vậy mà cái miếu Cao Biền bị nước cuốn trôi. Có lạ không. Nhưng cũng tại người mình coi nhẹ chăm sóc và cai quản mà ra nông nỗi ấy.

- Bị phá đi rồi phải không mẹ?

- Cũng gần như thế...nhưng cũng tại cái Chú Khách và người làng mình nữa, lòng tham của mà người ta bất chấp cả thần Phật con ạ!

Chú Khách là người bên Tàu, không biết sống ở ta lâu chưa, làm nghề ngỗng gì không ai biết rõ lai lịch. Nhưng đến làng mình thì ở lâu, lúc chỉ một hai ngày. Ông ta hiến lắm. Ai nhờ việc gì cũng làm được. Từ thợ ngõ, đến thợ mộc đều thạo cả. Đan lát thì khéo lắm. Cái nong cái nia, từ đường nan, đến cái cạp không ai chê được. Chú ấy cũng là người khôn, đến nơi này nơi kia, sẵn tre pheo rẻ, có khi mua chịu nhà có bụi tre, rồi ở trọ nhà người, đan lát đem bán cho người dùng ngay trong hàng xóm, mà gia chủ lại được biếu cái nong cái nia, ai chả mến. Xuất hiện và ra đi cũng thất thường lắm. Như thể chú ấy tính được cái nong cái nia ấy bao giờ hỏng để quay lại mà đan chiếc khác. Mau miệng lắm, gặp ai cũng chào, chỉ tội là nói ngọng. Lần sau cùng Chú Khách xuất hiện còn kéo theo dăm ba người bạn, ít nói nhưng vui tính. Lần này không đan lát gì cả mà chuyển sang làm thang tre. Ban đầu nhờ nhà ông Sơ ở giốc sông, nhưng đục đẽo lách cách cả ngày đêm điếc tai, ai mà chịu nổi. Không hiểu ông ta nói khéo với chức sắc trong làng hay sao mà họ cũng cho ra Chùa ở nhờ. Chùa ở ngoài đê, cũng có mấy gian nhà ngang mà chỉ có một người trông lúc đi, lúc về thất thường. Đục đẽo suốt đêm ai mà ngó ngàng đến. Họ cũng chăm việc. Đẽo đục ban đêm để kịp có hàng ban ngày đưa thang đi bán, nhà nông ai chả cần một chiếc thang. Cả làng ta về đêm vẫn nghe tiêng cưa, đục vẳng lên từ chùa ở ngoại đê, ai cũng phải thốt lên: " Mấy ông thợ tre làm thang này siêng thật, tranh thủ đục đẽo cả đêm". Ban đầu mọi người còn chú ý, nghe tiếng đục đẽo, nhưng rồi nghe lâu cũng quen dần. Vả lại lao động mệt nhọc ngoài đồng, nằm xuống đã ngáy để lấy sức mai còn lo chuyện kiếm bữa. Quên bẵng chuyện mấy người thợ làm thang tre ở nhờ ngoài chùa. Đến lúc nghe tiếng la lối của mấy trẻ chăn trâu, hay ra bắt tổ chim ở mấy cây đa ngoài đó:

- Ố làng nước ơi! Mất chùa rồi!

Không ai bảo ai mới túa ra như đàn kiến, lèn chặt trong và ngoài sân chùa. Người ta thấy bao nhiêu tượng phật bị vật, nằm ngổn ngang ra đất. Bữa trước vào thắp hương sợ sệt, không dám nhìn thẳng vào các ngài chứ nối chi sờ mó, làm những điều chỉ ma quỷ mới dám. Hậu môn các ngài bị lũ thợ làm thang khoét rỗng hết cả ra. Thì ra trong đó rỗng. Chắc mấy đứa thợ gian giảo kia, biết người làm tượng cho vàng ở đó, nên moi ra để lấy. Trên thượng lương của gian chính giữa có ghi chữ Hán, rõ năm tháng làm chùa thì bị hạ xuống, tháo rỗng ra, cả những hàng chữ cũng bị đẽo mất cả... Cả làng ngơ ngác, như thể bị ai hút cạn sức lực. Sau lúc bàng hoàng, hô hoán lên cho người đi các ngã để tìm. Nhưng tìm ở đâu, có trời mới biết mấy kẻ gian ấy đi lúc nào. Hỏi ai cho mấy đứa ác độc ấy ra ngoài chùa để ở, cũng không ai nhận là mình cho ở nhờ. Người này nói đêm qua còn nghe tiếng cưa đục , người kia cả quyết đã mấy hôm rồi không nghe thấy tiếng gì cả, họ ra đi từ lúc nào, ai mà biết được.Từ đó ngôi chùa của làng này cũng không còn thiêng như trước đây. Chiến tranh sảy ra, người ta làm trạm trung chuyển vật liệu từ bến sông lên. Lại mở những con đường chiến lược, nên làm trạm gác. Đào hào giao thông đào hầm. Nhưng chuyện bậy bạ của con người làm mủi lòng đức phật nên ngài oán, kêu Thủy Thần dâng nước lên, cái bãi bồi mênh mông thủa xưa đi gánh nước mỏi rạc cả chân mới mong đi hết, này thì đất lở. Ngôi chùa, cũng bị dòng nước đớp mất, cuốn trôi.

Mẹ tôi chép miệng, nghe mà buồn quá:

- Trách là trách cho mấy Chú Khách, miệng lưỡi thì nhân từ thế mà thâm thật!

                       Bao phen chìm nổi ba đào

            Tiếng chuông thỉnh phật rơi vào nơi mô?

Tôi nhận ra, chuyện Chú Khách là do mẹ tôi kể chứ không phải là anh Bảy- Nha Trang. Lúc nghe anh kể về chuyện A Quý đến ở nhờ, cứ lo ngại, anh có phải là con của hai Xuân không, nhưng lại nể. Có những cái nể, rồi sau này không có dịp hỏi lại cũng gây cho ta nỗi buồn.

 

*

Lại nhớ lúc mẹ còn sống, hay giục:

- Con ạ! Biết là nhà mình có túng bấn đấy. Nhưng mà cũng bán bung đi. Dồn lấy chút tiền mà vào thăm chị gái mày ở trong Sài Gòn kẻo chị em, lại xa lạ thành người dưng nước lã. Chị Thanh, con cậu tôi theo cha vào Nam làm ăn từ đời cố hoáng nào. Nhưng vì có chuyện cậu tôi trong đó mà gây nên bao chuyện phiền toái. Tận lúc đất nước Thống Nhất rồi mà cũng có dễ vài năm gặp gỡ, nói chuyện cũng lừa lựa thế nào. Tôi thì sĩ diện, không muốn bị cái nghèo mà lép vế. Chị Thanh thì giàu quá, nhưng lại sợ không dám cho em, hắn lại quy cho đồng tiền tư bản mà khổ chị. Rồi cái tình máu mủ ruột già mà chuyện giàu nghèo cũng không ai để ý. Cũng là nhờ vào mẹ tôi cả đấy. Chị tôi mới hỏi:

- Cô ơi! Cô nhớ ngôi chùa làng mình không. Đẹp lắm. Con đi mấy chục năm mà vẫn nhớ về ngôi chùa. Nằm nép vào lườn con đê. Cây bồ đề cổ thụ, mấy cây dừa, nó cũng gù như ông nội mình. Những lần ra sông gánh nước, nghe tiếng chuông chùa, giật mình nhìn mặt trời soi xuống dòng sông chiều bảng lãng. Mẹ tôi lại chép miệng khi nhắc đến những kỹ niệm buồn. Mẹ lại kể lại chuyện Chú Khách. Không quên kết luận một câu như là "quan điểm" của mẹ: Chú Khách, nom người thế mà tồi quá là tồi!

Chị Thanh nghe lặng đi một lúc. Chị cũng lạ lắm. Lây cái thở dài của mẹ tôi lúc nào chẳng biết. Chị nói như giao hẹn:

- Con nói chuyện này, Cô và cậu cấm được kể với ai đấy, kẻo lại khổ con như hồi xưa có người trong Nam đấy.

- Chị này! Có còn coi O là em của thày mày nữa không đấy?

- Là cháu cũng cứ giao hẹn để mà kín cái miệng kẻo lôi thôi!

Giọng chị nghe có vẻ bí mật.

Chợ Lớn, phần nhiều người Tàu sống ở đó. Làm ăn buôn bán hòa hiếu cùng người Việt mình từ lâu đời. Nhưng không hiểu sao, cũng có dạo sảy ra những vụ căng thẳng ở đâu tận bên nước họ hay đụng độ ngoài biển đông, không còn nhớ nữa. Vào một đêm, khuya rồi, nghe có tiếng bước chân lạ và tiếng chó sủa nhà bên cùng Sẹc với nhà chị. Ở chợ Bến Thành buôn bán tấp nập nhưng về đêm yên tỉnh, vì người ta cũng mau chóng tìm giấc ngủ để ngày vừa rạng là bị cuốn trong dòng tấp nập của câu chuyện làm ăn. Cả nhà đã ngủ say. Chị còn thức để lo quét dọn và phơi phóng áo quần, vì cũng không có dư dả để thuê người giúp việc. Nhưng chị nghe có tiếng gõ cửa, lúc nhặt lúc thưa có vẻ là sợ sệt. Không hiểu sao mà chị lại dám mở cửa, mà bụng bảo dạ, không được mở cửa lúc khuya khoắt như vầy, biết đâu bọn trộm cướp và tiêm chích vì túng quẩn mà liều gọi cửa bất cứ nhà nào để đe dọa kiếm chác. Vùa mở cửa ra thì gặp một người, áo quần đẫm sương đêm. Nhưng rõ ràng là ăn mặc sạch sẽ chứ không phải cách ăn vận của kẻ bụi đường. Cỡ tuổi chừng ngoài ba mươi, tuổi bằng cha sấp nhỏ. Ông ta quỳ sụp ngày xuống chân chị mà vái. Cái sợ ban đầu mất tiêu. Chị kịp đẩy khép lại cánh cửa xếp phía sau để có ai chạy đuổi theo cũng không phát hiện được ra. Người đàn ông lấy lại được phần hồn, lo ngại bởi sự liều lĩnh của mình. Biết đâu gặp kẻ ác, liều chả hô hoán hoặc bắt lấy mà nộp cho chánh quyền để lãnh thưởng. Thì ai không biết có sự đụng chạm với người Hoa đấy thôi.

- Thưa bà!...Phúc đức nhà tôi chưa cạn mà gặp được quý bà!

- Ông!...chị cũng không thể hỏi được gì nhiều. Phần thì sợ cái giọng khó nghe, ngọng ngịu của ông ấy lúc khuya, lại sợ bọn trẻ nó mà thức dạy thì lộ chuyện. Trẻ nhà nào chả vậy, hứa với cha mẹ là kín cái miệng nhưng đi học là lộ ra liền. Không hiểu sao chị lại đồng ý cho ổng trốn lại. Chị không có cái ý đẩy ông ra ngoài cửa. Chị cũng không kịp nghĩ gì khác cả. Hỏi ông có đói không, còn tô cơm ăn tạm. Nhà buôn bán, em biết đấy. Nấu nồi cơm lớn, với thức ăn sẵn, ai ăn thì xúc tô, có khi vừa ngồi bán hàng vừa ăn, không bầy biện vì đâu dư thời gian. Nhìn cách ông ta ăn thì biết đã đứt bữa. Xong xuôi, chị đưa ổng lên trên gian thờ phật. Vừa nhìn thấy hình của ngài, ổng đã sụp xuống vái lia lịa. Thôi đành vậy, để ổng ngủ nơi chiếc chiếu mà chị vẫn trải ra mỗi lúc ngồi gõ mõ thỉnh kinh. Là kẻ ác hay người hiền cũng mặc. Ngủ nơi thờ tự đức Phật thì còn lo gì là thất lễ.

Cả đêm hôm ấy chị không tài nào ngủ được. Trông cho trời sáng, dọn dẹp cơm sáng cho tụi nhỏ ăn đi học xong là lên để đánh thức ông khách không mời mà đến. Hướng dẫn cho ổng lối đi nhà cầu. Ít nhiều cũng còn biết tên và lại lịch ổng để sảy ra chuyện còn biết đối đáp nữa chứ. Cũng phải nói lại sự việc với anh Sáu của em kẻo ổng nghi ngờ thì gỡ làm sao nổi. Chị lên thì thấy ông Tàu ngồi niệm phật từ hồi nào. Chờ cho hồn ổng nhập vào thân xác về với cõi tục, chị mới nói:

- Ông xuống nhà để tôi có câu chuyện!

- Dà...dà...thưa bà...tui cũng chờ cho bà gọi ...để thưa chuyện.

Anh Sáu của chú cũng kịp tỉnh giấc nồng. Há miệng ra định, hỏi. Chị kể vắn tắt. Rằng tối qua anh ngủ say, gặp chuyện ông này, gọi cửa. Những gì sảy ra tối qua, không thêm bớt chút nào. Anh Sáu cũng là người sùng Phật, ăn chay một tháng tới sáu bảy ngày, tính hiền lương nên nói liền.

- Nhà làm như vậy là phải thôi. Nói với ông Tàu:- Ông đã vào tới nhà tôi là coi như khách, còn chuyện của ông hảy cất đi mà sống cho yên ổn.

Ông người Tầu có tên là Vương Thạch, người Triều Trâu, tổ tiên phiêu bạt tới đây từ thời chạy nạn nhà Thanh, sống kể nhiều đời. Cũng do chuyện nọ kia mà, phải chạy trốn chui lủi. Kể cũng tội. Điều anh Sáu hài lòng nhất là ông Vương Thạch nấu món ăn chay khéo lắm. Đậu hủ mà kho nước dừa và dầu dừa thơm nghẹt mũi. Lại cũng ăn chay tuần cùng anh Sáu. Chị cũng mua sỉ dầu dừa của mấy người ở Chợ Lớn mà bán lại kiếm lời. Khi đã lấy lại hồn rồi ổng Vương Thạch mới nói cùng vợ chồng chị :

- Ơn cứu mạng của ông bà tôi không thể lấy chi mà báo đáp được!

- Có xá chi! Ông cũng là người nước mình cả...chúng tôi giúp ông thì đức Phật lại dang tay ra độ trì cho mở mang sáng láng phần tục tằn của kiếp người đấy thôi.

- Tôi có chút nghề mọn, gọi là biết chỉ vẽ lại để ông bà bớt đi cái khổ. Cũng gọi là trả ơn từ bi gặp lúc khó! Ông Vương Thạch, lại sập lạy làm vợ chồng chị.

Tôi hấp tấp hỏi chị.

- Thế ông ấy, cho nhà chị vàng bạc nhiều lắm sao?

- Còn hơn vàng bạc cậu ạ! Người ta dạy cho mình cái nghề làm ăn. Cha ông đã nói đấy thôi. Ai đem đến cái nghề nuôi sống con người, là thày ta.

Tôi cũng biết, chị có đứa con bị tật nguyền. Bao nhiêu câu chuyện trên đời rằng những người Tàu thời phong kiến đi xâm lăng nước mình. Họ ác lắm. Bóc lột dữ lắm. Đúc vàng thành thỏi. Dấu kỹ lắm. Không tài nào mà tìm được. Lại kiếm những cô gái trẻ còn trinh cho ngậm sâm mà chôn sống cho chết dần dần, hồn phách nhập vào trong mật thất thành thần giữ của cho họ. Đem cả giấy tờ về nước cho con cháu đời sau đến mà gọi thần chú lên để mở mã ra lấy của mà đem về. Sao mà ác thật.

Như đoán được cái ý nghĩ của tôi, chị Thanh nói:

- Ông Vương Thạch là ông Tàu có cái tâm đức hiền của đức Phật...Không gian xảo như chuyện Chú Khách mà cô kể hồi xửa hồi xưa, phải không cậu. Tôi định nói với chị, rằng trên trái đất này ở đâu cũng có người tốt cả. Nhưng bể đông đã khó dò mà lòng người thì ai mà biết được.

Mẹ tôi mất lâu rồi. Anh Bảy thì định cư tận bên Caliphocnia, chị tôi cũng đi về phía bên kia mặt trời. Tôi thắc mắc hoài về Chú Khách, biết hỏi ai đây? May quá, bây giờ có mạng internet, mới tra xem thế nào. Hóa ra người Khách chỉ là một dân tộc thiểu số của Trung Hoa, chà vậy mà thời mẹ tôi đã biết gọi là Chú Khách.

 

                                                                 Viết xong, Tam Đảo, 10/9/2011

Chú Khách

nguyentinh | 29 September, 2011 20:33

 

                         Chú Khách

                                                                          

             Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

 

Câu chuyện này do ai kể, mẹ tôi mất từ năm 1982, mà anh Bảy nhà ở đường Nhị Hà ( Nha Trang), tháng 4 năm 1975 tôi sống ở đó thì nay định cư bên Caliphocnia, không liên hệ được, làm sao để hỏi. Chị Thanh con gái của cậu tôi ở trong Chợ Lớn cũng không còn. Chú Khách, là câu chuyện do mẹ tôi kể chứ không ai khác, nói về một người Tàu, sống ở quê tôi. Một cách gọi  những người Hoa bấy giờ sống rải rác trên nước ta. Không gọi là Tàu Ô, lũ người ô hợp năm 1945 ở lại với vợ con như ông Sáng, mà người Tàu gọi là A Sáng, khinh thường như một lũ đói khát, cái đầu cúp trọc nói năng ngọng ngịu, khó nghe lắm. Chú Khách, bảnh bao, tài nghệ và lạ lùng, có sức cám dỗ với trẻ con và người lớn làng tôi. Lúc sống nhờ ở quê tôi, với bao lời khen, nhưng ông ra đi vào một đêm bí mật thì bao điều tiếng còn lại mãi không bao giờ cho xóa sạch. Chuyện này, không thể một lúc mà nói ra được đâu.

Năm 1975, đơn vị tôi kéo pháo vào đến Nha Trang thì miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi vào chiếm lính căn cứ của sư đoàn 6 không quân Mỹ ở thành phố Nha Trang. Lần đầu tiên được tiếp xúc với căn cứ không quân lớn như vậy. Có cả đường băng tít tắp, nhìn lâu như có hơi nước bốc lên mù cả mắt. Có người hiểu biết bảo, làm cho máy bay B52 hạ cánh. Sau những phút giây ngỡ ngàng, chúng tôi được điều sang bên tỉnh ủy Khánh Hòa, làm đội quân đi tuyên truyền cho nhân dân Nha Trang sau giải phóng. Tôi và một cán bộ nữa được phân về nhà anh Bảy ở đường Nhị Hà, mỗi người một việc, đi vào đời sống của người dân sau giải phóng. Làm cho người dân hiểu được Cách mạng, là nhiệm vụ của chúng tôi. Ngoài ra giúp cho các tổ chức, nghiệp đoàn, thanh niện, phụ nữ, nông hội...hoạt động. Những chuyện này, không liên quan gì đến Chú Khách, vậy mà tôi vẫn bị ám ảnh về một người đến thăm anh Bảy, một ông Tàu, từ trong Sài Gòn ra. Mà dứt khoát là anh Bảy không bao giờ gọi người này là Chú Khách, vậy thì Chú Khách là người mà mẹ tôi kể thôi. Tôi cứ tưởng Chú Khách là gọi riêng về một người Tàu có tên là Khách. Không nên dài dòng làm gì, nhưng cũng không thể nói cho gọn để bạn đọc hiểu về câu chuyện được. Vì là khách quý nhà anh Bảy mà được ông Tàu, mời luôn một bữa nhậu ề hề. Mới giải phóng, nhà dân nào mà được "nuôi" bộ đội đến ở là vinh dự lắm. Huống chi, chị Bảy là cán bộ phụ nữ được chúng tôi về ở "ba cùng" lo xây dựng phong trào cho phường và khóm. Ông Tàu xuất hiện, lúc đầu anh Bảy lúng túng. Sau thì lấy được tự nhiên và nói như giới thiệu:

- Ông Ba đây là người trong Chợ Lớn, ra đây lo câu chuyện, đến nhà thăm tôi. Còn đây là chú Sáu ( anh không gọi tên mà gọi tôi theo thứ tự trong nhà, cho nó thân tình) bộ đội giải phóng.

- Ô...dà...dà...Vinh dự...Vinh dự...Bộ...tội...giả...phaáng! Ô!...dà ...dà! Dù không nhiệt tình cũng lây bởi cách cởi mở thân thiện của ông Ba. Ông Ba, là người làm ăn đi lại đó đây nên cũng không lúng túng vị sự gặp gỡ này. Tôi không quan tâm về câu chuyện hai người nói với nhau những gì. Thú thực giọng nói ngọng ngịu có lúc pha cả tiếng thổ quan mà vốn học Trung Văn, chẳng được là bao, lâu rồi nên quên mất cả. Cứ gật gật cho nó qua chuyện, dù không hiểu được gì. Tất nhiên là anh Bảy mời ông Ba Tàu mời cơm. Ông Ba nói: hổn...có...tược...Cố...ôông giả...pôống... nên... mờ... ti... nh...ờ... h...owng! ( Có ông giải phóng nên mời đi nhà hàng). Tôi cũng được đèo hon - đa đến một nhà hàng trên đường Đọc Lập (cũ) và cũng lần đầu tiên ăn cơm Tàu . Lúng túng lắm, không quen dùng dao và nĩa. Đoán được điều này, anh Bảy là người chỉ dẫn cho, chắc là ông Ba nhận ra nên luôn miệng nói: Ô...zà...zà... không sao... không sao. Khó nhất là lúc ăn con tôm hùm, to bằng cả bắp tay người lớn. Không khéo thì bị văng ra khỏi đĩa. Ông Ba Tàu mới đứng lên giọng rất oai gọi:

- Pồi...tâu?

- Dzà...dà! Tức thì mấy người mặc áo đỏ chót đến. Không cần nói, họ đã nhoay nhoáy bóc con tôm hùm và thái ra những nhát mỏng tang và pha cho bát nước chấm. Thú thật lần đầu được thưởng thức món ăn này nên không làm sao nhớ được mùi vị. Hỏi đến đâu cứ gật gật, ngượng quá. Cuộc nhậu kéo dài. Nhưng đến khi tiễn ông Ba về rồi, anh Bảy mới kể câu chuyện này. Anh Bảy cũng giống tính tôi, rượu bia vào người ta thì ngủ ngay nhưng mình tỉnh táo, không làm sao chợp mắt được.

 

*

Thời tôi còn theo má từ quê ra sống ở Vạn Xuân, thị trấn này bé lắm, chỉ mươi mười nóc nhà tấp lá dừa nước. Nhưng lạ, ở bất kỳ đâu, nghèo đến mấy rồi cũng có người tần tiện làm ăn dư giả dần dần có máu mặt. Mà lạ nữa, trời cũng hào phóng, ban cho kẻ đang giàu lên đó một người đẹp, giúp cho con đực kia đam mê, đẻ không biết mệt để nhân giống ra trên mảnh đất khắc nghiệt, tha phương cầu thực. Vợ chồng chú hai Xuân, có của ăn của để, cất được nhà gạch, tậu ruộng, trâu và tự dưng người ta không dám chờm lợp gọi là chú nữa mà cái miệng đưa lối, do nể cái đẹp của vợ ổng và tiền của ổng có mà xưng là ÔNG lúc nào không hay. Đã thế con cái ông ta cũng bắt chước má mình mà xinh đẹp lạ kỳ. Mới chưa đầy mười ba mà biết chăm sóc cho nội vụ trong nhà, nghĩa là để mắt đến mọi việc, người làm mướn ai cũng ưng và quý lắm. Con trai thứ như viên ngọc quý, ăn no chóng lớn và học giỏi, nói năng lễ phép, coi con đường hoan lộ thành người công chức là điều nằm trong dự liệu nay mai. Sự giàu có ấy, và gia thế đang lên ấy là ước mơ của nhiều người, và cái thị trấn bình yên này.

Một buổi sáng nọ, có người khách lạ, nói tiếng khó nghe như người nói nhịu. Vẻ ngoài không phải là người Tây dương. Tây dương mũi lõ, tóc quăn, cái hao hao như thân thể đức chúa giáng thế mà mấy người đi truyền đạo ta vẫn bắt gặp, không tài nào lẫn được. Rõ là một chú Tàu. Người Tàu này, nhìn vẻ ngoài không có gì đặc biệt lắm, ngoài tiếng nói làm cho người nghe dễ nhận, anh ta cũng ít nói, thay vào đó là nụ cười lành, không nịnh mà tỏ ra thân thiện, đáng mến. Da trắng, nên khó đoán tuổi tác là bao nhiêu. Vợ chồng chú hai Xuân là  người có máu mặt trong làng, có ăn và phong lưu, nền nếp giáo dục con cái và đức độ. Thấy ai gặp khó là sẵn lòng giúp đỡ nên uy tín đối với người trong thị trấn này khá tốt. Như bao người tha phương làm ăn. Thấy người cần cù chăm chỉ ai cũng muốn kết bạn. Vợ chồng hai Xuân cũng muốn giúp đỡ người khác, không phải là bằng mấy đấu thóc, họ hiểu lầm, cho rằng của '' tế bần '' thì sao? Thuê làm một việc gì đó, trả công cho người, giúp được người, không làm cho họ mếch lòng. Hai Xuân nói với vợ:

- Có ông người Tàu, coi bộ cũng tốt tính lắm. Cần cù, chịu khó. Ai thuê gì làm nấy. Khéo tay lắm. Hay ta thuê ổng chăm mấy công đất sú vẹt mọc lâu nay để hoang ở ngoài mép nước, cũng không đáng là bao, hở mẹ em ?

- Tùy ba tụi nhỏ thôi! Chỉ sợ họ lại nghĩ khác, cho rằng nhà mình cậy thế giàu có mà bóc nạt, bắt ép người.

- Để xem, tính tình mà hiền lương thì giúp mà quỷ quyệt thì mặc xác họ! Nói vậy, nhưng lòng nhân từ vốn có đã vượt lên sự ngại ngần.

Khoảng thời gian sau, hai Xuân nói với vợ. Tôi định rồi má nó ạ! Giúp cho chú A Quý chăm lo cho mấy công đất hoang hóa, của mấy người đi lính thú cầm lại cho nhà mình dạo nào. Của nợ đó để không thì tiếc mà cho người thuê lại lo. Lo chi vậy ba sắp nhỏ. Người ta lại tưởng mình lợi dụng vào người sa cơ lỡ vận mà ép buộc. Nhưng rồi vợ chồng hai Xuân cũng thuê A Quý chăm sóc mấy công đất ngoài đìa. Rồi chuyện cái đìa và người Tàu nọ cũng bị công việc mà quên đi.

 Một vụ sau, cái đìa ấy như có phép lạ mọc lên các loại cây xanh ngút mắt. Ở bên ngoài được bao bọc các loại cây nước mặn. A Quý cũng không vất vả gì, thả cho cây bần, cây đước lúc nước rút, đến khi nước lên thì đã bám rễ mà gọi nhau thành bè thành mảng . Sẵn tài biết đan lát, anh ta đan những chiếc rọ, ném chúng xuống trong lòng đìa, ở chỗ có cây mọc xanh tốt, ý chừng như rủ cho lũ tôm cá chui vào. Cũng không quên, ném chiếc nào, dùng cây cắm lấy làm dấu. Lúc đi thu không bị mất công. Không khó khăn gì, A Quý bắt chước người dân sở tại đan chiếc mủng và quét sơn, lúc bơi ra để đổ giỏ dùng hai tay mà chèo, khéo lắm. Một bữa, vợ của hai Xuân đi thăm mấy người làm muối về qua cứ tấm tắc khen:

- Ba của sắp nhỏ mà nhìn được ông người Tàu làm ăn cũng kỳ lắm đó!

Vừa nhắc đến, A Quý xuất hiện. Cái cười thay cho lời nói:

- Ông chủ! Nhờ có ông bà giúp đỡ mà tôi có công việc, được thế này! Tất nhiên là giọng nói khó nghe lắm. Phải đoán mới hiểu được. A Quý không quên, tặng cho mấy cậu nhỏ một lồng chim. Bắt chước tiếng chim hót, là chim bị tiếng "giả chim" của A Quý gạ cho hót hay lắm. Mấy đứa trẻ mê tít. Hai Xuân được tặng chiếc đồng hồ, nhìn vào vàng chóe, đêm sáng nhìn rõ được cả con số. Vợ của hai Xuân được tặng ít vải, gọi là bà mặc thử xem nếu ưng, tôi nhờ người kiếm hộ. Thật tình, hàng xóm nhờ vả, ai cũng có chút biếu xén thịnh tình, nhưng với những món của A Quý thì chưa ai biếu bao giờ. Hai Xuân nói với vợ:

- Bộ làm có được chừng này không mà biếu hết vậy?

- Tôi cũng thấy A Quý nằm ở cái lều ngoài đìa mà thương quá!

- Mùa nắng còn đỡ chứ lúc gặp hàn, dễ ốm lắm! Hai Xuân cũng nghĩ như vợ. Họ là những người chân thật mà.

A Quý ốm thật. Có người đến gọi thất thanh:

- Ông Hai ơi! Ông người Tàu làm thuê cho nhà ông Hai bịnh nặng rồi...coi bộ sắp chết đến nơi ngoài đìa, mau ra mà xem.

- Thật sao? Hai Xuân hô thêm mấy người chạy ra đìa. Thấy A Quý người lấm đen, đang bò lóp ngóp từ nơi sình lầy lên bờ. Sờ vào trán thấy nóng ran. Tá hỏa, cho cáng đến ông y tá, làm cho sở lục lộ về hưu, người dân ở vùng này vì thiếu thày thuốc mà gọi là bác sĩ, với lòng kính trọng. Ông ta cũng không kịp đo mạch mà vội chích cho mũi thuốc bổ, cũng chỉ có thế thôi, gia tài thuốc men của ông có gì hơn. Nói cho mọi người yên lòng.

- Đưa ông ấy về tỉnh dưỡng, ăn cháo hành là lành bịnh thôi.

Bấn quá, hai Xuân đành cho người khiêng về nhà mình. Chả lẽ đưa A Quý ra ngoài đìa, nằm ở cái lều trống trơ, đầy gió chướng ấy, lỡ chết thì sao. Đằng nào nhà mình cũng thuê mướn người ta làm mấy công đất bỏ đi này. Thuốc thang cũng không lấy gì cho lắm, nhưng được nghỉ ngơi, và ăn bát cháo của vợ hai Xuân mà A Quý qua ngày thứ hai là ngồi được dậy. Không nằm trên giường mà đến quỳ sụp lạy dưới chân vợ chồng hai Xuân.

- Tôi mang ơn ông bà nhiều lắm...Biết lấy gì trả ơn ông bà đã cải tử hoàn sinh cho tôi đây?

- Đừng làm thế chú Quý! Cũng là tình con người với nhau...sao phải quỳ lạy?

- Ông bà không nhận ba lạy này thì Quý tôi không dám đứng lên đâu!

- Chú đứng lên đi nào! Hai Xuân kéo tay A Quý đứng dậy. Ngẫm nghĩ một lúc, hai Xuân nói với vợ.

- Hay chú cứ ở đây, nhà ngang cũng còn một chiếc giường để đón khách quê mỗi khi lên.

- Không được! Tôi không dám nhận ân huệ ấy của ông bà đâu!

- Thế chú lại ra ngoài đìa hay sao?

- Vâng! Tôi ra ngoài đó...Vợ chồng ông chủ cho mượn đất, trồng cây, nuôi tôm là cứu tôi trong lúc khó khăn này rồi. Lại cứu tôi thoát chết vừa rồi...ơn này...A Quý lại toan quỳ lạy.

- Không được! thế thì chú cứ nghỉ cho khỏe hẵng hay.

A Quý lại ôm chầm lấy chân vợ hai Xuân mà lạy, làm cho cô ta đỏ mặt vì thẹn. Tuy có hai mặt con, nhưng tuổi của vợ hai Xuân cũng mới ngoài ba mươi. cuộc sống phong lưu nên trẻ so với tuổi tác. Mắt A Quý mấng nước.

- Thôi thì tôi cũng liều mà xin ông bà gia ân cho...Gọi là cho nhờ cái chái của gian nhà gần bếp kia, lợp thêm một ít tranh pheo vào gọi là trú ngụ, mai kia khỏe mạnh, tôi làm lại cái lều ngoài đìa rồi chuyển ra ngoài đó.

- Tưởng chuyện gì, chú cứ làm...Tôi đã nói có chiếc giường nơi nhà ngang kia còn trống. Nếu ngại chú lai ra một gian cho nó dễ bề sinh hoạt. Mắt A Quý ánh lên niềm biết ơn. Ốm đấy nhưng bắt tay vào việc là nhoay nháy không biết mệt. Mấy đứa trẻ thì vui lắm. Có chú Quý, làm mồi, con chim cũng hót hay hơn. A Quý là người biết điều, được mời ăn nhưng không mấy khi nhận lời. Nói với hai Xuân, tôi như đày tớ làm sao dám ngồi với ông chủ?

 

*

Từ đó nhà hai Xuân có thêm một người ra vào nơi chiếc cổng gạch có cánh cửa bằng gỗ lim, lâu nay không dễ gì người lạ vào được. Vợ hai Xuân, có khách lạ thường xuyên xuất hiện trong nhà mà ăn mặc cũng gọn gàng và đẹp mắt hơn. Mới ngoài ba mươi, mỗi lần có điều gì vui trong lòng lại ánh hồng lên đôi má. Cậu con trai, được chú  Quý bầy cho các trò chơi, chẳng mấy chốc mà thân tình, coi như người nhà. A Quý, hết sức giữ ý, không mấy khi giáp mặt với vợ chồng hai Xuân, chỉ có mấy đứa trẻ là được bầy trò chơi và dường như cũng ngoan hơn, vì chú Quý biết chỉ vẽ cho học hành tấn tới. Điều này cũng làm cho vợ chồng hai Xuân hài lòng. Sự đời, nếu A Quý mà vồn vập thì biết đâu bị coi thường, nhưng vì né tránh mà sinh ra tò mò, tìm hiểu về con người có vẻ giỏi giang mà bị cảnh sa cơ lỡ bước. Một lần, không thể từ chối được, có đám giỗ chạp chi đó trong nhà mà vợ chồng hai Xuân dặn từ trước:- Hôm nay nhà có khách, ai cũng biết chú Quý tá túc trong nhà tôi lâu rồi. Đằng nào cũng gọi là có đám, bớt việc ngoài đìa, ở nhà mà uống ly rượu gọi là.

- Tôi làm thế sao được thưa ông bà...mà thân phận tôi có gì đáng nói đâu?

- Chú nói thế! Cổ nhân chẳng dạy: Tứ hải giai huynh đệ đó sao? Chú có làm chi phiền nhà này đâu. Mấy công đất ở đìa có để cũng thành bãi hoang, có chú mà nên gia sản, tăng lợi tức hàng năm cho nhà tôi. Gian nhà chú lai ra có bõ bèn gì với việc chú bầy vẽ cho các cháu học tấn tới, người ta còn phải nhờ thày dạy tư nữa là...

- Ông bà đã có lòng tin cậy thì Quý tôi xin đội ơn, nhưng được phụ giúp nấu nướng, cũng là góp cho bữa tiệc thêm phần vui vậy.

A Quý thật bõ lòng tin của vợ chồng hai Xuân vào bếp trổ tài gia chánh. Cũng cá, cũng thịt, gà vịt, ngan ngỗng nhưng với bàn tay tài nghệ của anh ta mọi thức bầy biện làm hoa cả mắt người ăn. Thị trấn này mấy ai được thưởng lãm các món ăn của thành thị bảo sành ăn. Rượu vào, ai cũng phấn hứng mà đề nghị:

- Vợ chồng ông hai Xuân kiếm được người tài ba này ở đâu ta?

- Chú Quý nhà này đấy! Hai Xuân không dấu nổi tự hào.

- Xin...Tào...quấy...ông! A Quý khúm núm cho hai tay vào bụng thi lễ.

- Không dám! Không dám!

- Chả hay quý ngài, trên trời rớt xuống hay sao? Rượu vào, thêm bốc đồng, đó cũng là thói ban phát sự đùa bỡn của người có máu mặt, cứ phong bừa cho kẻ dưới thấp hơn mình, có chết ai kia chứ.

Người ta cũng không kịp nghe lời nói của A Quý, nó khó nghe lắm, tiếng bản địa đã khó trần tình khi có men  rượu, huống chi là lời nói mang đặc thổ âm của người Tàu.

- Bác hai Xuân cho em mượn người này, có được không? Một chủ tiệm ăn mới vừa có máu mặt ngỏ lời.

- Ấy chết! Đâu dám! Đâu dám?

- Tùy chú Quý thôi! Hai Xuân lưỡng lự. Đoán được ý của hai Xuân mà A Quý mới nói thành lời. Cũng tài thật, mới lúc nãy không ai nghe được hắn nói điều gì.

- Tôi không có tài cán chi cả...Chỉn biết chăn gà thả vịt và trồng trọt cây cối thôi...Được ông bà hai Xuân chiếu cố như vậy là mang ơn trọng lắm lắm. Quý hóa! Thật quý hóa lắm!

 Rồi hoàn cảnh của A Quý, kín như người Tàu cũng bị lộ, sau một lần hai Xuân vui vì vụ trúng tôm ở đìa mang lại kha khá tiền. Nói, vậy, hai Xuân cũng bận cai quản đồng ruộng, người làm thuê làm mướn, mải khi xong xuôi mùa vụ, A Quý mới nói như phô:

- Ông Hai, thấy ông bận quá mà tôi thì rảnh, xin được thưa cùng ông...

- Có chuyện chi mà chú Quý phải e dè, chẳng là người trong nhà rồi đó hay sao?

- Tôi xin nộp lại ông bà tiền lời trúng mùa tôm năm nay?

- Thật sao? Hai Xuân mừng vui ra mặt, khi A Quý đưa ra một sấp bạc dày.

- Bà nó ơi! Không nén được, hai Xuân gọi vợ từ trong nhà bếp ra, mặt mày còn đỏ hực nóng nôi củi lửa. Chú Quý năm nay trúng đậm.

- Không kiếm chút gì ăn mừng sao. Ông cũng vừa xong vụ. Vợ hai Xuân thật thà nhắc chồng.

- Nhà nói phải. Cũng tiện đây mấy khi hả chú Quý.

- Không dám. Tôi làm sao mà dám ngồi với ông chủ.

- Vẽ! Chú xa cơ lỡ vận mới thế chứ...Tôi không tin là chú kém cõi đâu?

- Không dám! Ông Hai dạy thế là con tổn thọ lắm da!

A Quý thuyết phục hai Xuân xẻ một góc vườn mé ngoài cổng ngăn mở quán nấu ăn. Thực phẩm không thiếu, lấy từ nơi đìa lên nào cua ốc, ếch nhái, cá mú mà lâu nay người ta chỉ quen chém to kho mặn. A Quý chế ra những món đồ nhậu thu hút những người có máu mặt trong thị trấn. Nghèo đấy, nhưng người ta có quyền ăn chịu, mà ăn chịu thì ghi sổ, mùa lại lo mà xúc lúa, vặt hoa quả trái cây bán đổ bán tháo đi lo trả. Bữa cơm nhà nghèo không còn vừa khẩu vị người bữa trước cần cù, chắt bóp tiết kiệm nuôi vợ con. Ăn ngon mà thiếu trò chơi làm sao mà chịu nổi. Đành phải chơi những trò mà A Quý dạy cho người ta. Từ cờ tướng, bài tây, bài chấn...cũng chẳng khó với người chưa chạy qua hàng chữ. Không riêng gì chồng mà cả vợ của hai Xuân cũng ham chơi. Chơi thắng, thua mà nhiều cũng chán. Không hiểu kẻ nào hô lên, chơi ăn tiền thôi. Có thế mới thúc đẩy được người chơi. Ban đầu thì mỗi ván ăn tiền in ít, chút đỉnh thôi cho nó ham. Nhưng chơi ăn thua chút đỉnh lại cũng chán, người ta như bị men của cay cú thúc giục nên muốn đặt cược cho nhiều thêm. Lại có thức ăn do A Quý bày biện, hấp dẫn nên người chơi có tiếc chi mà không ăn chịu ghi sổ, đến mùa xúc lúa gạo ra mà bán đổ bán tháo để lấy tiền mà trả nợ. A Quý lại quen mấy người từ trong Sài Gòn chạy xe chuyến nên cho trả bằng lúa gạo đem vào trong đó tiêu thụ, nên cũng không lo chuyện bán buôn gì cho thêm phiền lòng. Người đến chơi bài ban đầu chỉ loanh quanh trong vùng nhưng loang ra mãi ngoài xa, thậm chí có người ngoài thị xã, thành phố ở lì ra cũng chán, vào làng quê bùn lầy nước động mà có cái vui nguyên sơ nên ham lắm. Ban đầu mấy người chơi không phải là thua cả đâu mà thằng nhiều cuộc. Qua tính toán, ai cũng sáng rực mắt lên như kẻ ốm lưu niên vừa khỏe lại. Tiền kiếm được còn khá hơn cả một vụ cắm mặt nơi đồng ruộng hoặc cháy lưng nơi đồng muối. Những người khác không nói làm gì, chỉ vợ chồng hai Xuân thôi cũng là một chuyện không nên để cho người đời biết. Ban đầu thì cũng chơi lấy lệ. A Quý nhắc nhở rất thật lòng. Ông bà chơi cho nó vui thôi. Đừng ham vào đỏ đen làm gì mà gặp hồi đen bạc, cay cú thì gay lắm đó. Nhà mình chỉ làm nhà cái cũng có tiền lời lãi dầu đen rồi mà. Nhưng người ta nói, khát bạc như khát nước là đúng thôi. Ban đầu một mình chồng chơi, vợ ở bên ngoài lo phụ giúp cùng A Quý nấu nướng đồ nhậu cho người ta. Nhưng cuộc vui nó thu hút các bà vợ của mấy nhà có tiền đến chơi mà vợ hai Xuân cũng thử vận may. Được A Quý đại thí cho ít nhiều mà thắng luôn tù tì. Tiền vào căng cứng cả hầu bao, làm cho hoa cả mắt vì vận đỏ. Cũng có khách muốn ở lại để chơi cả ngày lẫn đêm mà xin ngủ lại nơi căn nhà mà bữa trước chỉ vợ chồng nhà hai Xuân ở. Như thế bất tiện lắm. A Quý mới xui, hay là làm thêm vài gian nhà lá để ai muốn ngủ lại phải trả thêm tiền trọ, có đi đâu mà thiệt. Hỏi lại lấy tiền đâu ra mà chưng cất. Quý mới nói, có mấy người đồng hương trong Sài Gòn có thể cho vay, nhưng mà họ lấy lãi. Chẳng cần suy nghĩ gì nhiều, cả hai vợ chồng nhà hai Xuân đều vui vẻ tán thành. A Quý tỏ ra băn khoăn, cô Hai đã bắt đầu lớn tuổi, nếu để ở nhà thì ảnh hưởng đến việc học hành vì biết đâu nhìn thấy người ta bài bạc mà ham muốn. Chi bằng gửi vào trong Chợ Lớn cho mấy người có thày dạy trong đó mà lo học hành nên người. Vợ chồng hai Xuân bữa trước không cho A Quý sụp lạy thì nay lại muốn qùy lạy con người phúc hậu, giỏi giang này. Cơ trời không cho nhà hai Xuân làm chủ điền trạch và gia thất hay sao mà thua bạc không sao mà gượng nổi. Ban đầu thì tiền tích trữ lâu nay do cần kiệm làm ăn. Sau thì lấy đất ra mà gá bạc. Rồi đem cả nhà và vườn ra để nhờ A Quý các lấy tiền ra mà nướng vào đỏ đen. A Quý, quỳ xuống mà lạy hai Xuân:

- Ông chủ ơi! Xin ông đừng chơi nữa kẻo ra  ngoài đường mà ở đấy!

- Đây...còn một món tiền nữa...chả lẽ không đủ cho chơi một ván hay sao? Người ta tưởng vì say rượu mà hai Xuân nói liều. Mấy kẻ chơi bạc thì thích chí cười lên thật khả ố. Cái món này tuy có hai con cũng đáng tiền lắm chứ. Bao nhiêu, để tôi.

- Đừng vô lễ! A Quý cầm lấy khế ước bán vợ nơi ta hai Xuân nói, không dấu  nổi buồn bã.

- Ông chủ đừng làm thế. Thôi thì chơi một ván này nữa thôi. Nhưng như thế cũng đủ hai Xuân khuynh gia bại sản, trắng tay rồi còn đâu mà chơi. Hai Xuân uống rượu say mà ngủ li bì hai ba ngày không tỉnh lại. Đến khi nhạt rượu thì khóc lên hu hu, nói với A Quý:

- Chú Quý ơi! Tôi thật ngu dại nên bây giờ trắng tay, mất cả vợ con rồi...làm sao đây?

- Ông chủ ơi! Ông đừng nói thế...lúc tôi sắp chết, vợ chồng ông cưu mang, lẽ nào lúc này ông gặp nạn. Ông cứ ở lại đây, tôi có bữa ăn thì ông cũng có ăn, tôi đói thì ông cũng đành nhịn đói. Chẳng qua tôi là người làm thuê cho ông chủ khác cả đấy thôi.

- Chú nói thế sao tiện. Tôi còn mặt mũi nào mà nhìn ai nữa...Sực nhớ là cái đìa chưa bán cho ai. Hai Quý nói như khóc.

- Tôi ra ngoài đìa sống cũng được...nhưng còn vợ tôi và thằng út làm sao mà chịu được ở ngoài đó?

- Ấy chết! Ai lại để cho bà nhà ra đó mà sống? Vả lại bà nhà cũng học được cách nấu nướng các món ăn, giúp tôi phục vụ khách rồi! Không nói ra nhưng trong bụng hai Xuân cũng biết mình đã bán vợ từ mấy hôm trước rồi.

Hai Xuân dọn ra ngoài đìa để sống. Vợ ở lại nhà chính cùng A Quý cai quản cơ ngơi vừa cơi nới ra, manh nha một sòng bạc. Cũng có tiếng đồn đãi là có mang, bà ta ở trong nhà có ra ngoài đường đâu mà biết. Cũng có mấy người buôn bán trong Chợ Lớn ra nói gặp một người có mang giống vợ hai Xuân lắm. Toan hỏi nhưng sợ không phải. Cũng có khi là con gái của hai Xuân cũng nên, ai mà biết được.

- Thế đứa con trai của hai Xuân thì ra sao? Tôi hỏi anh Bảy. Anh lặng thinh không trả lời.

 

*

(tiếp)

 

Lên Tam Đảo

nguyentinh | 28 September, 2011 15:09

  Ngày cuối cùng ở trại viết cũng lên được chùa Tam Đảo

  Một nhà thơ "đàn bà" nói đã hứa phải lên

  Ta đi một mình từ sáng sớm

  Thắp hương khẩn cầu bà chúa đại ngàn

  Rằng tôi là kẻ lòng dạ gian tham

  nhưng bất tài nên không bòn được gì cả

  chỉ có điều tiếng và dăm ba cái văn không có gì xa lạ

  nên người đời chỉ ngó qua và ngoảnh mặt làm ngơ

  đói kém một đời nên sinh ra bệnh

  uống thuốc từ lâu đến giờ

  chán chường biết ai mà than vãn

  tưởng đến đây gặp nhà văn thì vui không biết chán

  ai ngờ vẫn bực mình

  Tôi nghe như thể lời quở trách

  rằng làm sao triệt tiêu được lòng trắc ẩn của con người

  thì còn sinh ra chùa chiền cho ai vào cúng bái

  nếu không ưng thì nhà ngươi cứ chửi

  bực tức biết đâu là khai mở đoạn đầu

  cho cái cuồng si SÁNG TAỌ

 

  Bây giờ thì mây bay vào trong phòng tôi ở

  như thể cười mây về gió thuở con người chung đụng với thánh thần

  nhớ câu chuyện mà cô thủ từ nói

  tiền làm chùa này là do một người làm ăn bên tiệp về hiến tặng

 

  tấm lòng

  nơi đất khác có lúc chạm vào thần chết

  nay làm chùa mời phật về

  tìm lại sự thanh tâm

Ông phải làm chủ nhiệm

nguyentinh | 29 August, 2011 09:16

          Ông phải làm chủ nhiệm 

                                                           Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

Ô

ng Bách không ngờ mình đã chạy trốn, mà vẫn phải làm chủ nhiệm Hợp tác xã Đại Lại. Người ta thì được làm chủ nhiệm đã thích mê rồi. Nhưng riêng ông “phải làm chủ nhiệm”, mới khổ cái thân ông. Ông đã biết cái đoạn trường này nên cáo ốm đi BệnhViện. Hừm! Đi viện là xong. Ai trách người ốm - “ốm tha già thải”. Ông có đủ cả hai lý để cáo lui về với thú vui điền viên. Ngoài năm mươi tuổi chưa là già. Nhưng mắc cái ông quần chúng lắm cơ, quần móng lợn chân đất lội đồng, miệng nhai trầu nên sớm được chức ông. Mấy lại mấy kẻ xu nịnh muốn gọi bằng ông để tăng vẻ oai phong, nghiêng làng, nghiêng nước của kẻ cầm cân nẩy mực. Và ông lại bệnh tật, đi nằm viện hẳn hoi, thì ai bầu bán cho người ốm, người vắng mặt.

Nhưng mà, cái xã Đại Lại này cũng không phải vừa. Nó vốn có bảy làng, ôm lấy cái hồ non bốn chục mẫu. Xưa, lý trưởng, phó lý bên ba làng tranh hùng với bốn làng bên này hồ. Bao giờ cũng vậy, dân bốn làng đều lãnh phần cai quản “xã tắc”. Ông Bách cũng năm chìm bảy nổi vì chuyện xô đẩy của đám làng hồ Đại Lại. Nhưng rồi ông cũng vẫn là ông, cái  thằng kế toán, nó nói:

- Anh viết chữ xấu quá nhưng được cái dễ xem!

Láo chưa. Nó biết thổi mình lên mây chứ lỵ. Thử nghĩ, ông có đoái hoài chi chữ nghĩa bảo xấu với đẹp. Chưa qua lớp ba (lớp ba là của hiếm thời đó, mù chữ là chính), ông xung phong đi thanh niên xung phong, rồi đi miết. Lúc về cái xã này hoá ra là Đảng viên trẻ, làm quản lý đại đội, nên ai cũng nể vì. Thế là ông đảm đang Phó chủ tịch tài chính. Chậc, tài khoản có gì cho cam. Lo dỡ mấy cái chùa, cái đình của bảy thôn về trung tâm xã làm trường học. Việc đó ông nghĩ đến ngay. Như vậy đã nổi tiếng lắm rồi. Xưa nay ai dám đụng đến những thứ lạc hậu nhưng linh thiêng ấy. Làm trường học, thành điển hình của cả huyện. Người ta ca ngợi ông là người dám đào bỏ phong kiến xuống hố. Phát động cho thanh niên phá nghè và chùa, cho tượng đá, khánh đá vào nung vôi, ai cũng lắc đầu lè lưỡi, ghê thật thời buổi vôi đắt mà ông Bách đã nhìn được xa, tự cung tự cấp không phải mua vôi của dân hàng thuyền, bán đắt như cắt cổ. San bằng bãi tha ma để làm sân bóng cho thanh niên luyện tập thân thể. Cuộc cách mạng về bộ mặt đã gây cho người già chép miệng: Người cách mạng là không biết sợ. Nhưng cánh trẻ thì háo hức lắm. Ông cho chặt cây ngũ quả, thông cổ thụ, có tuổi dễ bằng ngôi chùa, xẻ ra đóng bàn ghế. Ông cho rời toàn bộ những tam cấp, hổ phù về quá khứ thiên niên vạn đại để làm nên mái trường khang trang. Hôm làm lễ khai trường mới hạnh phúc làm sao. Bữa trước ngồi trong mấy cái đình, tường bị rỗ gạch do làm kho để muối của Đồng Minh, hoặc ngồi nhờ nhà dân. Học trò khổ còn quá lội ruộng... Ông đã làm chủ tịch của cái xã Đại Lại nổi danh này. Thầy giáo hiệu trưởng trường sau khi đọc lời khai mạc, giới thiệu ông:

- Bác Lê Thế Bách người chăm lo cho thế hệ trẻ Đại Lại, vinh dự cho quê hương chúng ta. Xin mời bác chủ tịch đọc lời khai mạc!

Thầy khóc. Không riêng thầy mà thời đó người ta dễ lây nước mắt lắm.

Chao ôi ! Ông mới gần bốn mươi tuổi. Đỏ mặt vì cảm động nhưng cũng đỏ mặt vì thẹn thùng chức “bác” quá trẻ. Nhưng tài ăn nói vo đã cho ông bình tĩnh trước bàn dân thiên hạ. Ông phác tay như người chỉ về cái hồ Đại Lại. Ông yêu cầu thầy trò giữ cho ngôi trường, đứa con đầu lòng của cuộc cách mạng, đẹp đẽ, sạch sẽ. Từ đó, cái xã này ai cũng phục ông về hành động phi thường ấy.

Khi cả xã này gom ba hợp tác lại làm một, ông nghiễm nhiên thành chủ nhiệm. Vất vả quá đi mất, làm chủ nhiệm của cái xã bốn ngàn dân. Làm người chăm bẵm cho mọi gia đình. Nhưng cuộc đời đâu chỉ toàn niềm vui...

Ông Bách đang nghĩ ngợi thì về đến nhà lúc nào không hay. Bà vợ ngồi ở cạnh chiếc cối xay lúa, khóc:

- Hu !Hu!Hu... Ông ơi! Người ta lại bầu ông làm chủ nhiệm rồi!

- Nhảm ! Được bầu làm chủ nhiệm thì mừng, sao lại khóc?

Bà Bách cực chẳng đã tủi thân khóc không ra hơi. Chỉ nghe tiếng hự hừ trong họng.

- Ông không nghe lời vợ con. Tranh quyền, tranh bá làm chi cho khổ thân ông... hơi.... ơi ...!

- Ô hay ! Tôi đã chết đâu mà bà khóc ?

- Thì ông coi – Bà Bách nỉ non... Người ta cứ bầu ông làm chủ nhiệm để đầy ải cái thân ông cho mà xem.

Ông Bách ngồi đờ ra, tai không hề nghe thấy tiếng của bà Bách. Ông nhớ lại cái thời đi đến đâu người ta cũng nhắc đến “ông Bách” như một người anh hùng. Đài và báo nói rùm beng lên về ông và xã Đại Lại này. Cán bộ huyện và tỉnh thì gặp ông chằm bẳm tay bắt mặt mừng.

- Xin chúc mừng thành công của đồng chí Bách !

Người ta nói muốn làm việc với ông Bách thật là khó. Phải đến nhà từ tưng tửng sáng hoặc tối mịt kẻo ông ra đồng mất. Ngủ dậy vợ chuẩn bị cho một gói trầu tướng... chân không kịp đi dép, quần ống thấp ống cao ông đã lội đồng. Từ đồng Khu đến cồn Mả Tổ, Cồn Chó đẻ... ông thoắt  đến thoắt đi nhanh như con căn cắt. Có người lại còn kể rằng, muốn xin chữ ký, bắt cho anh cán bộ huyện con lợn con phải đuổi theo ông hầu khắp các xứ đồng, mệt bở hơi tai, còn không tìm được ông. Khi thất thểu về trụ sở Hợp tác xã đã gặp ông chân duỗi chân co lên ghế nhai trầu. Cu cậu nín thở đến xin chữ ký, bị ông nói mát:

- Chờ được anh vào  lấy chữ ký thì lợn nuôi đã được năm chục cân rồi !

Đồng chí cán bộ cơ quan huyện xoa xoa hai tay, bắt tay ông Bách rõ chặt nói rằng:

- Quả anh còn nhanh nhẹn lắm, cánh trẻ chúng em theo còn khướt.

Ông Bách nuốt nước cốt trầu đến ực một cái nắm chặt bàn tay đồng chí cán bộ như tán thưởng câu khen ngợi đó.

Công bằng mà nói ông Bách là người lăn lộn với phong trào của xã này. Đấy bờ hồ xây bằng xi măng vài triệu đồng. Kho giống cũng ngần ấy, còn cơ man nào là trại lò gạch, trại ngói thì nó mọc ở đâu mà ra ? Nhà ông làm có đụng một hòn gạch ngói nào của Hợp tác xã thì ông cứ ngã lăn quay ra mà chết. Mấy anh máy kéo là nể tình bác chủ nhiệm Đại Lại mà chở gạch tận xa về. Từ mạn ngược về giúp ông. Nhưng trước mặt bàn dân thiên hạ ông đã trâng tráo tới mức độ, chúng ta cần liên kết với các xã bạn để tiến lên. Hồ và trại chăn nuôi có cá và lợn, phải giúp cho xã bạn, không có điều kiện chăn nuôi. Có người bảo. Gạch ông lấy ở Bái cũng là do cái tình bạn bè mà Chủ nhiệm trên đó biếu không một cách hào phóng. Thời ấy, ai bảo không khôn nào. Ông Bách đã nghĩ ra cách liên kết với bên ngoài để thu lợi. Chứ anh khác ấy à, tội gì gạch ngói của nhà có sẵn không kéo về mà xây, ai làm gì được nào. Ông Bách tịnh không tơ hào. Không phải ông sợ ai mà ông muốn mọi người thấy cái liêm khiết của mình. Được cái oai chủ nhiệm có phải không gian khổ đâu. Ông nhớ cái lần còn chiến tranh ấy mà. Quân của ông gánh lúa đi nhập cho bộ đội. Chà. Cách làm kiểu du kích ấy có chết cha người ta không chứ. Thủ kho không kịp cân đã ra lệnh gánh. Ai cũng lo, máy bay địch nó có thể đánh vào đập nước, nhà máy và kho, mạnh ai nấy gánh. Lần đầu tiên trong đời ông không chỉ huy nổi đám xã viên của mình. Thế là khi khớp sổ hụt mất ba tấn có dư. Một số anh được dịp phản công ông. Cho rằng ông thông đồng cùng thủ kho ăn số thóc. Ông đã chỉ thẳng vào mặt thủ kho:

- Anh nói thẳng đi xem, tôi chấm mút cùng anh giọt nào không nào ?

- Dạ thưa ! Không ạ ! – Anh chàng tái mét cả mặt phân bua – Do tôi không quán xuyến được ạ !

Đằng nào ông cũng phải kỹ luật tay thủ kho vì thiếu trách nhiệm. Nhiều ý kiến cho rằng tội đáng khai trừ ra khỏi đảng. Ông đề nghị cho phát thanh trong toàn xã công và tội của hắn. Công và tội của ông, cân lên xem đằng nào nặng đằng nào nhẹ.

Chiếu cố quá trình công tác, ông bị cắt chức Đảng uỷ viên và chức chủ nhiệm. Đã vậy thì ông nghỉ. Nhưng trên lại giao ông dẫn đoàn quân đi lấp hố bom. Ông Bách vẫn có gói trầu thuốc cùng anh em lăn sả vào bom đạn mà khắc phục giao thông. Nhưng cực nhất là cái lần đi đắp hố bom thông đường cho xe. Đồng chí Bí thư huyện đi kiểm tra, đạp xe thấy ông đã dừng lại. Nắm chặt tay ông niềm nở:

- Đồng chí Bách đấy à ! Làm ăn khá lắm !

- Báo cáo anh tôi lúc nào cũng vậy cả ! - Ông Bách cởi mở tự tin trả lời.

Cậu lái xe con quân sự nổi còi binh bình giục ông và đồng chí Bí thư huyện để xin đường. Nhưng lại tắt ngay máy, đóng sập cửa lại, chạy xuống réo tên ông:

- Ớ chú Bách !

- Cháu! Ông nhận ra con ông anh họ – Sao cháu không về qua nhà một chút !

- Không chú ạ ! – Cháu phải đi ngay, chiến trường đang trông đợi ! Cháu chúc mừng chú nhá !

- Gì vậy cháu ! - Ông Bách ngạc nhiên hỏi lại.

- Cháu nghe đài nói về quê ta, về chú. Quả chú anh hùng lắm ! Bom đạn thế này mà sản xuất giỏi quá !

Ông Bách chết lặng đi. Đồng chí Bí thư phải đỡ lời cho ông:

- Phải ! Đại Lại khá lắm !

Mấy anh chàng thay ông làm ăn hỏng cả. Ông lại được phục chức từ bấy đến nay.

- Hu ! Hu ! khổ thân ông! – Tiếng khóc làm ông giật bắn cả người. Ông nói với bà Bách như nói với xã viên:

- Cơn cớ làm sao nào ?

- Còn làm sao nữa ! Ông cứ phải làm chủ nhiệm !

- Ô hay! Thì phấn khởi chứ sao bà lại khóc ?

Kể ra thì ông Bách phải lấy làm mừng mới phải. Nhưng sự việc đâu có đơn giản là thích hay không mà được. Đại Lại của ông làm ăn ách tắc. Nói ách tắc là còn nhẹ. Có kẻ nói rằng nát bét. Người ta nhìn thằng kế toán, cái lưng khòm, cháu của ông mà nói đùa trước mũi ông.

- Đó "thằng ngay làm cho thằng khòm" ăn !

Có phải lúc trước, ông kỹ luật cho trắng mắt ra, nhưng bây giờ thì chịu. Người ta phổ biến chỉ thị 100, và chỉ thị cho ông "khoán hộ". Ông kêu trời, không hiểu trên nghĩ sao, chả lẽ lại quay về "tư bản" chắc. Có đứa trong họ mau miệng nói mỉa mai, vài ba sao ruộng có mà lên "tư bản"ăn. Ông Bách đỏ mặt tía tai quát. Thế công lao của tao đổ xuống sông xuống biển mất cả à ? Nhìn đến cơ ngơi dãy nhà kho ngang dọc, sân kho rộng mênh mông mà ông cùng đồng chí của mình phải tốn bao công sức mới có được mà phát ốm. Lại những chuyện động trời mà ông gây ra nữa. Gom chuyển toàn bộ dân cư từ bên kia sông nông giang về cồn bãi tha ma chỉ trong vòng một tháng là hoàn thành. Nhìn những chiếc xe bò, xe trâu chở bàn thờ qua cầu quan về nhà mới mà ai cũng lắc đầu. Từ thủa khai thiên lập địa ra cái làng này chưa ai làm được điều đó cả. Ngày xưa có anh cán bộ nào lớ xớ, bị bắt quả tang, hủ hóa với một bà nạ dòng nào, chỉ trói ốp lưng vào nhau cho du kích dẫn đi khắp làng mà rao bằng cái loa mo cau thế này:

- A lô! Nghe đây...nghe đây! Tên Ngù Văn Tịch bắt được quả tang cùng Lũ Thị Quai, thớt trên chồng thớt dưới...Để cả làng xã biết mà tránh phạm phải, phá hoại thuần phong mỹ tục...

Chỉ những người như ông có gan lớn bằng gan trâu mới dám nhúng tay vào những việc tày đinh. Ông nghĩ, mai kia, vài ba xã được tháp lại cho nó to vào, Đại Lại không dùng thì nơi khác cày cấy cũng là "xã hội chủ nghĩa" cả chứ sợ gì bay. Thế là cánh đồng mà người ta gọi là Đồng Oa, nơi vua đi chơi, ông đổi cho Xã Đống lấy nơi đồng Ông Ngáo, xa ngút mắt, ghánh được gánh phân ra đến nơi mỏi rặc cả chân, mà đến vụ thu hoạch không được là bao.

Nhiều chuyện mà ngẫm lại làm ông mất ngủ, có thói quen hay thở dài.

- Uổng công quá! Bao năm qua cái trại chăn nuôi mà ông xây dựng !

- Có gì đâu ! - Ông Bách nén cái đau xót vào trong bụng. Có thời ông đi báo cáo, mà các anh cấp trên nghe rất thú vị. Cắt ngang lời ông để vỗ tay. Chúng tôi chăn nuôi theo cái lý thuyết này. Trại chăn nuôi Đồng Chùa lấy cá từ hồ Đại Lại này nấu thành chất bổ dưỡng cho lợn ăn. Lợn mau lớn lại cho phân nuôi cá, cá sinh sôi, cá nuôi béo xã viên...vv và vv. Không hiểu có kẻ nào mách lẻo cho ông nghe mà ví vón đến hay. Người ta đến tham quan mô hình của hợp tác xã Đại Lại. Báo, đài cũng um tí tỏi lên, nên tay cháu của ông cứ tưởng chú mình thành anh hùng là cái lẽ ấy.

Hết đơn này đến đơn khác gửi đi. Họ cho rằng ông phá Đại Lại. Cả chuyện gạch ngói ông lấy làm nhà ở trên Bái từ cố hoáng nào cũng được moi ra. Họ nói chẳng qua ông lấy cá ở hồ Đại Lại đi biếu mà đổi gạch. Ông đi ra đồng sớm ấy à ? Có mà đi uống trà, nốc rượu ở đâu đó !...

Ông ấy quá tự phụ nên có thèm tiếp ai ở huyện về đâu. Lại còn có cả tủ rượu quốc lủi ở trụ sở, muốn uống lúc nào thì tùy ý. Ở nhà, ông Bách lại có thức ăn riêng như kiểu bà đẻ ấy!.v.v và .v.v.Cũng có thể cái quân phá hoại nó bôi nhọ danh dự ông. Thâm niên lãnh đạo cái làng xã này có mấy ai hơn được ông đâu. Rồi chuyện nọ sọ chuyện kia, mấy cân đậu phụ, vài cân cá viết tay. Có khi những đứa được ông gia ân cho lại ném đá dấu tay. Chuyện chia đất chia ruộng miếng tốt miếng xấu, thửa xa thửa gần, cũng làm cho đầu ông váng vất. Có lúc ông thấy những ông phỗng đá mà ngày nào cho vào lò vôi hiện lên đòi phải nộp mạng. Ông không ngờ đất đai có lúc không coi ra cái chi, một miếng giấy viết tay, là người của ông xẻ bờ rào ra dọn ngay thành con đường bi giờ lại thành oán giận.

Giống đời yêu nói tốt, ghét nói xấu, ông nghĩ thế nhưng mà tức lắm. Tang chứng đâu ? Nhưng mà biết đâu đó, chữa được vạ thì má đã xưng. Khỗ cái nỗi là họ toàn lấy cái cũ không đâu để đồn đến cái nát bét của cơ ngơi bây giờ. Chả lẽ ông chẳng có công chút nào hay sao. Lần đầu tiên ông nói cùng bà vợ.

- Bà ạ !

- Gì ông?

- Tôi nghỉ chủ nhiệm thôi !

- Sao ? – Bà Bách hới hải hỏi lại.

- Có sao đâu ! - Ông trấn an – Mình xin nghĩ trước lúc mất còn hơn, ông điềm đạm trả lời.

- Tội gì ông ! – Bà Bách nói giọng nghèn nghẹn.

- Bà không nghe người ta xì xào à !

- Chậc ! Ai còn lạ gì bịa miệng thế gian này !

- Nhưng bà bảo đời tôi còn chịu đến bao giờ nữa ?

- Nào tôi biết được với ông! Nhưng cái lý thì... ông đừng xin nghỉ thì hơn. Bà vợ ông Bách sực nhớ, ngày giỗ, ngày tết, quanh năm trong vòng bán kính vài ngàn mét, lúc tiếng lợn kêu là có kẻ xách cân thịt gói lòng đến nhà, chẳng nói chẳng rằng, lại có tiếng đụng chạm đến giao thớt. Con ông Bách lại phàn nàn oán trách:

- Sao lại đem thịt đến lúc này?

Tết đến, bà lại đau cả cái lưng vì phải ngồi mà rán mỡ. Tốp mỡ phải cho vào thúng mà không hết. Đứa con gái đoảng lại hỏi mẹ:

- Mẹ này! Bố làm chủ nhiệm mà nhiều mỡ thế này...Ông huyện, ông tỉnh chắc là phải một kho.

- Cha chị! Bữa cơm mà không có tí béo mặt mày nhà chị chả dễ coi lắm đấy!

Thấy ông Bách xắng nghỉ chủ nhiệm làm bà tiêng tiếc.

- Tôi nghỉ quách. Để xem đứa nào dám dơ lưng ra xắng vác?

- Ông nên đi viện, ốm tha già thải... có phải là được cả đôi đường !

- À ! Ông Bách chưa bao giờ biết nghe cho hết lời của bà ấy. Thề mà mấy chục năm, lần này không ngờ bà ấy lại cao mưu đến thế.

- Ông bắt đầu sợ rồi sao?- Giọng bà Bách cũng run run làm ông lây cái vớ vẫn.

- Không phải tôi sợ! Mà bế tắc bà ạ! Tôi không biết làm cách chi để vực cái Đại Lại này lên!

- Thì ông nghỉ cũng được! Bà Bách cũng cảm thấy trong giọng mình sự hồi hộp. Bà hồi hộp cũng phải thôi. Mấy đứa trẻ đến chơi với con gái bà, chúng nó kể. Nhà cái anh chủ nhiệm ở bên sông đấy thôi. Làm chủ nhiệm giỏi lắm. Vừa làm chủ nhiệm mà còn tranh thủ ghi tên học xong cái đại học, rất khó do trung ương về dạy. Làm cái hội trường to lắm dễ còn hơn cả cái đình ngày xưa. Hôm khánh thành còn thuê cả người về viết kịch và diễn. Mời cả tỉnh về ăn tiệc. Lúa gạo, lạc đổi được nào là phích Trung Quốc, mì chính Thái Lan, dép nhựa Tiền Phong...quan khách ai cần là hào phóng, biếu, tặng. Lúa chở cung cấp cho mấy ông anh kết nghĩa ở huyện rồi ở tỉnh ăn thoải mái. Thời buổi người ta độn khoai độn sắn, bo bo mà cứ cơm trắng mà choảng. Đến lúc bị bắt, không ai ngó ngàng đến. Không khai cho ai cả, thế mơi tốt chứ. Thì có khai ai mà nhận. Giấy tờ đâu, ngay như ông nhà bà đây, chả lẽ lại ký nhận cân thịt lợn hay sao. Có mà ăn mắng. Nhưng nói đến tù tội, bà cũng run sợ, lỡ mà ông ấy... cũng bị như nhà anh gì bên sông thì khốn.

- Ông nghỉ cũng được rồi... Lộc của thiên hạ... hảy để cho người khác gánh ông ạ!

Ông Bách bàn giao quyền cho phó chủ  nhiệm để đi viện, trước kỳ đại hội xã viên. Không quên dặn với, các đồng chí cứ tiến hành đại hội.Tôi, xin kiếu... Đại hội vắng ông, cũng cứ tiến hành. Cứ tưởng đại hội xong, ban bệ đâu vào đó ông mới xuất viện, nhưng có ai ngờ.

Hai trăm đại biểu xã viên Đại Lại có mặt. Vắng chỉ mình ông. Họ phán quyết về số phận ông. Có ý kiến đề nghị cho ông nghỉ vì ông già yếu. Bà Bách nghe mà buồn ràu. Nhưng tay Nhạ xin phát biểu. Bà Bách hồi hộp. Vì dù sao hắn cũng là kế toán trưởng, cũng là chỗ thân tình. Nhạ nói dõng dạc:

- Cơ ngơi của Đại Lại ta ai cũng biết bề thế lắm! Có lúc nhất nhì huyện. Nhưng bây giờ thì bà con xem... Còn đâu nhà kho, sân phơi, trại lợn, lò gạch... Nhạ dừng lại hồi lâu. Bà Bách thấy lo. Không hiểu sao, bụng dạ đàn bà mà bà linh tính thấy có điều chẳng lành. Tôi thấy, ông Bách đáng lý nên nghỉ chủ nhiệm. Nhưng vì ông gắn bó với tập thể, chăm lo cho tập thể nên ốm. Chúng ta không thể đối xử với người có công như thế được. Tôi đề nghị nên bầu đồng chí Bách làm chủ nhiệm. Có tiếng ai đó xì sao, cái loại người, cáo ốm chạy làng. Anh ỉa bậy ra để ai dọn đây? Bà Bách căm lắm. Cái quân chó người. Nó còn thiếu ngủ ở chuồng trâu nhà bà mà nịnh. Có dạo, bà nghe người ta nói, hắn còn chuốc rượu cho ông Bách say để lăng nhăng với em gái béo như cái cối xay không ai thèm đụng đến. Thì ra bụng dạ con người mang bồ dao găm.

Im lặng như con dao đâm vào tim bà Bách. Trời đúng thằng Dụng còm, cháu nhà này chứ ai. Nó lại nói nửa nạc nửa mỡ:

- Bác Bách ốm nằm nhà thương. Bác ấy già rồi, tư duy lộn xộn quá! Nên để bác ấy nghỉ là phải.

- Không ! Ông Bách cứ phải làm chủ nhiệm. Đó là trách nhiệm phải trả lại cho Đại Lại, mà ông ấy để lại!...

Chuyện sau này ông Bách làm chủ nhiệm thì ai cũng biết rồi...

*

Mấy chục năm sau ông Bách vẫn sống dai dẳng trên mảnh đất ấy. Không làm gì to tát cả, nhưng cũng "hưu địa phương" tuy chẳng nhiều nhặn gì, nhưng ông vẫn sống phong lưu, nhiều khi còn ngồi với các đại lão của làng mà chơi bài chấn và tổ tôm. Những lúc cao hứng ông vẫn nói với người ngồi đám bài giải trí.

- Cái thời tôi làm chủ nhiệm ấy mà!...

Không hiểu ông vui hay buồn. Bây giờ người ngồi chơi bên chiếu bài là đủ hạng. Cán bộ hưu quân đội, công nhân và cả mấy cha để cho vợ cai quản quán cóc mà vui chơi cho nó hết ngày. Cũng có kẻ cho vợ đi làm ôsin nơi ngoại quốc mà có nhà đúc, có tiền sát phạt đỏ đen. Ngày trước, còn phân biệt thành phần giai cấp kỹ lưỡng xem ai ngồi với ai, không thể cá mè một lứa hoặc con kẻ nọ kẻ kia mà dám ló mặt đến gặp ông Bách, hay kiểu quan địa phương như ông. Kể đám cờ bạc cũng không phải ăn thua cay cú gì. Không ham với các lễ hội thì người ta đốt thời gian với đội quân "tổ tôm" này thôi. Có dạo, ông "phải làm chủ nhiệm" mấy anh ở huyện phải tìm cho bằng được ông để đánh bài. Những cuộc ấy nhiều khi lại là nơi để bàn bạc, thay đổi cả "nhân sự" nữa đấy. Ông Bách thì để cho làng quê ông một nỗi thua thiệt không bù đắp nổi. Ông dồn dân vào nơi nghĩa địa để cho gọn làng gọn xóm. Cánh đồng bên sông tốt có tiếng ông tưởng là thành nông trang đến nơi mà đổi cho xã khác, dân phải đi hàng nửa ngày trời mới ra đến ruộng mà người xã này chỉ mấy bước chân là qua cầu đến ruộng, đất trồng bông ngày xưa tốt lắm. Cái mau, cái hồ ngày xưa chỉ để hoang cho bèo mọc, rắn rết, chim về làm tổ hót quanh năm. Ông "biếu không" cho mấy người xã bạn. Nay được dọn sạch, là đầm sen và thành chốn giải trí có nhạc sập sình, khách thập phương về vãn cảnh chùa chiền, viếng lăng tẩm nơi chôn cất phần mộ các đức vua. Trại chăn nuôi ở cánh Đồng Chùa, một thời nổi tiếng bởi con giống của Đại Lại, mau ăn chóng lớn, sau thành hoang phế, được dọn dẹp xây thành Nghè, anh họa sĩ người làng, học bên Tây dựng lại tượng quan ngài ngồi uy nghi. Phải nhờ các vị thày chùa cao tay nhập định. Ông cũng được mời dự lễ khánh thành, bởi các nhà công đức về đầu tư, cung tiến. Nghe nói có nhà  giàu và tướng tá ngoài Hà Nội cũng về dự cho thêm phần thâm nghiêm và quần chúng. Hôm khôi phục lại chùa chiền và miếu mạo, thằng cháu họ của ông giờ giữ chân chủ tịch Đại Lại, nó nói hay lắm:- Đây là tấm lòng người dân Đại Lại hướng về cùng tổ tiên cội nguồn để giữ gìn bản sắc dân tộc...Không biết ai nói, mấy quan ngài ngồi trên ngai, không giống tượng mấy ông ngày xưa, cái mũi, nét mặt của các ngài hồi xửa hồi xưa nó gần gũi vơi người mình hơn, bây giờ ông họa sĩ này được học bên Tây, bên Tàu nên đắp cái mũi không tẹt, mà dọc dừa nên nó xa lạ. Có người thì tỏ ra bênh vực, bảo trẻ con bây giờ sướng, to lớn hơn cha anh và cả cái mặt mũi cũng sang và khôn hơn, tây hơn là phải thôi. Nhưng liền bị cãi lại, là đắp mấy ông ngày xưa, chứ có phải làm tượng mấy người bây giờ đâu mà nói thế?

Dẫu sao thì mặc lòng, bây giờ vào ngày đầu tháng hay rằm, người ta cũng cỗ bàn cúng bái. Không mang tiếng là Đại Lại không có chốn đi về cho thần linh.

Ông Bách cũng nhận ra. Dưng mà, không phải như thời ông làm chủ nhiệm, nói ra có cái uy nghiêng ngã làng xã. Im lặng là hơn...Bà vợ nghe mà như bị ai đấu tố:

- Cái lão Bách, không biết xấu hổ hay sao mà bữa rồi còn lên ti vi nói như là người có công với làng này! Có mà lão phá nát làng quê này ra thì có.

- Tôi mà biết, xin ông ấy mấy miếng đất, bây giờ xẻ thịt đất mà ăn cũng đến đời cháu! Có người tiếc rẻ bảo thế!

- Cái thời... ông phải làm chủ nhiệm!... Bà Bách có người gọi cổng, hôm nay khánh thành lăng Vua, mỗi người trong xã được chia lạng thịt. Tin ấy làm cho dân như sống lại sự vui của thời nảo thời nào. Quan khách (tất nhiên có cả ông Bách) được mời ăn ở rạp. Thật đúng là, ngày xưa hợp tác xã mà có việc, làm thịt con lợn đã sang. Nay thì ăn uống thuê người ở thành phố rước về nấu. Phấn sáp lòe loẹt lại hát xướng loa đài rùm beng. Mẹ nó chứ...Cái thằng! Nó lại giới thiệu ông Bách...Nguyên chủ nhiệm hợp tác xã Đại Lại... Không phải riêng lão Bách nhà này, mà có nhiều người khác nữa, một thời nhiệt tình thì có sẵn mà cái hiểu làm sao mà có được. Như con kiến mà leo cành đa, thật luẩn quẩn.

Cái chết là, bữa trước ông dồn dân từ bên sông về, bây giờ lại bán đất ở bên ấy cho người đến ở. Vì ai cũng ngại vượt qua cái dốc cầu này. Ở dốc Chùa bây giờ lại có cái cầu mới, nối Lăng Vua bên Đại Lại và ở Bái sang. Nhìn cái cầu ai cũng tiếc, phải chi còn ruộng ở Đồng Oa, chỉ một bước chân, thật nhàn. Nhưng có người lại nói, ai nghĩ đến làm lụng nữa đâu, mà làm những con đường cho nối cái bị gãy tâm linh trong cái đầu của mình ấy. Có lúc cái danh Ông chủ nhiệm cũng chỉ còn trong ký ức mà thôi.

                                                                        Thị xã 10/9/1986

Bạn tù

nguyentinh | 24 August, 2011 09:14

                           Bạn tù

                                                       Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

R

a tết vợ tôi giục, anh tranh thủ vào trại giam thăm Lưu đi. Tuy tết nhất lúc này cũng khiêm tốn, nhưng vẫn dành cho Lưu một cặp bánh chưng, một chai rượu nút là chuối và một gói thuốc lá du lịch...May là hắn bị nhốt ở trại Cầu Cáo, không cách xa nhà tôi là mấy. Lưu làm chủ nhiệm hợp xã Vinh Quang ở bên kia sông Lu. Là bạn học cấp ba với vợ chồng tôi. Dạo ở đài tỉnh, đi huy động lương thực, bí thư huyện ủy XT nói với tôi:

- Em sang bên sông Lu mà viết về thằng Lưu, nó làm ăn cũng được lắm. Là người cùng huyện, coi nhau như người nhà nên bí thư huyện cứ "anh anh em em" cho nó thân mật. Được một ông bí thư huyện ủy xưng hô kiểu gia đình như vậy, còn gì vui bằng. Thuở đó lương thực khó khăn, chủ nhiệm hợp tác xã như Lưu phải nói là mạnh.Tôi thấy lạ, một thằng cha gày gò, tóc hơi hoe vàng như con gái, có vẻ nho nhã, thư sinh mà làm chủ nhiệm. Hắn bảo là học với tôi vào năm đầu cấp ba, sảy ra chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, trường huyện tách ra sơ tán thành hai trường phổ thông hai bờ sông Lu. Tôi cũng không nhớ nên đành ậm ừ cho qua chuyện.

- Ông viết hay không thì tùy, về chơi với tôi là vui rồi. Cái giọng nói có vẻ thoải mái, làm cho tôi thấy yên tâm.

Trưa đó làm được việc gì đâu, đã mời nhà báo đến nhà ông Ùy phó chủ nhiệm cơm rượu rồi. Vinh Quang có chợ, nấu ăn cũng rất khéo. Nhà báo chỉ mình tôi nhưng bầu đoàn thê tử thì khá đông, hai ba mâm.

- Chả mấy khi anh về Vinh Quang...Có mâm cơm rau gọi là. Lúc nãy Lưu nói chuyện rất tự nhiên, bây giờ thi lễ, hai tay xoa vào nhau, tôi phải cố nhịn mới không phì cười. Rượu nút lá chuối còn nóng, bốc lên mũi thật quyến rũ. Và xem nào, rau gì mà toàn gà luộc, chân dò thái mỏng nhưng nói không ngoa to bằng nửa bàn tay của ông Ùy, phó chủ nhiệm. Lại còn lươn om củ chuối, ếch tẩm bột, với các loại rau "nhà quê"...Thú thật, nhìn thấy mâm rượu đã ứa nước miếng.

- Xin mời nhà báo nào! Tôi phải chào khắp lượt chánh phó chủ nhiệm và các ban bệ, đến khi kịp lùa vội vàng bát cơm gạo mới thì không còn muốn ăn nữa.

Buổi chiều, đầu còn ong ong, chưa biết đào đâu ra tài liệu để viết thì được mời vào mâm chiều. Sẵn vịt cỏ và khéo léo của ông phó chủ nhiệm có cái tên rất dản dị: Ông Ùy, mâm tiết canh thơm phức được bê ra. Lưu hai tai vẫn còn đỏ, không chắp tay thi lễ như lúc sáng mà tuyên bố:

- Chiều nay, các anh em còn phải xuống đội đốc thúc thu sản, chỉ mấy anh em mình thôi. Nói là mấy anh em nhưng cũng phải hai mâm xếp chặt.

- Nào! Xin mời nhà báo, chén này cho lại rượu...Chén sau xin tùy tâm. Nói thế thôi, uống rượu mà không phát động thì buồn lắm.

- Hai ông còn là bạn học với nhau mà! Một ai đó nhắc nhở.

- Xin mời! Các ông có học hành tử tế. Làm nhà này nhà nọ. Bọn tôi đành theo đít con trâu. Bữa ni được lòng dân thì đậu mai kia thất dực là bị dân họ phế...Tôi nhìn thấy Lưu không có vẻ gì là buồn cả. Cách ăn nói cũng bất cần. Trước lúc xuống Vinh Quang, tôi được biết, Lưu là một trong vài ba người tốt nghiệp đại học tại chức của huyện đạt loại khá. Là một chủ nhiệm cứng cựa của bên tả ngạn sông Lu. Đất bên này pha cát nên trồng lạc năng suất khá cao. Lưu lại quan hệ thoáng nên đổi được hàng hóa khá phong phú của ngoại thương. Phích Trung Quốc, mì chính, vải vóc, dép "tiền phong"...là hàng độc, không phải ai cũng có thể mua được. Nhất là đài bán dẫn, có một chiếc đeo kè kè bên hông là có thứ bậc trong làng xã. Ông bí thư tỉnh ủy là người đặt vấn đề khá hay: " Ổn định lương thực là ổn định tất cả" nên mùa huy động lương thực các cơ quan đoàn thể đổ xô xuống để đốc thúc. Cán bộ hàng tỉnh thì chỉ đạo. Nhân viên thì theo dõi, còn phóng viên nhà đài nhà báo thì đưa tin. Thủa đó chưa có truyền hình, báo viết vẫn là có giá. Chưa kịp biết hết tên, cũng chửa hiểu Lưu và Vinh Quang làm ăn ra sao, anh ta nói là thu hoạch hoàn thành chỉ tiêu huyện giao cho là yên tâm rồi. Nhiệm vụ của đài đưa tin là chính, nhưng gặp bạn và muốn làm văn nên cũng cố mà nặn ra một bài ký. Tên thì tât nhiên là thơ mộng rồi: Bên kia sông Lu. Cuộc gặp gỡ ấy là lần hội ngộ đầu tiên sau bao năm rời trường cấp ba thời chiến tranh. Sau này thì về huyện nhà, có sang sông thăm Lưu, hắn nói là bạn viết hay không quan trọng gì, chúng ta là bạn kia mà. Lưu bảo: "Anh về công tác, không có gì làm quà, gửi tặng anh một chiếc phích làm kỹ niệm, mỗi khi dùng nhớ đến chúng tôi.” Tôi áy náy lắm, mình chưa làm được gì. Lưu nói, không việc gì, đối với Vinh Quang đối sử rất thành tâm, ai mà giúp đỡ, chúng tôi đều có tấm lòng biết ơn.

Bài viết của tôi cũng được in trên tập san văn nghệ của tỉnh nhà. Con đường đi lại với hợp tác xã Vinh Quang kể đã thông.Vã lại, nghe đâu giữa Lưu và bí thư huyện ủy thân thiết, kết nghĩa anh em thì phải. Tôi còn sang đó nhiều lần. Thậm chí, tết nhất còn dẫn cả một bệnh viện về bắt lợn thịt, xe hỏng phải nằm qua đêm trên đê mà chờ sáng ra mới sửa được để về. Về mặt tiền bạc, lúa má lúc đó tuy hiếm, đói, nhưng thực tình thì chiếc xe đạp Phượng Hoàng cọc cạch cũng không mấy khi đèo thồ từ Vinh Quang về thứ gì. Tôi vốn lười nhác mà mở miệng đặt vấn đề dường như rất khó khăn. Một lần gặp Lưu ở huyện, theo đoàn đi chống lụt, bão. Lưu mời:

- Tôi đang chuẩn bị khánh thành Hội Trường, ông có thể làm một tiết mục văn nghệ hay nhờ ai viết hộ được không?

- Tôi không viết được nhưng có anh bạn viết văn làm thơ ngon lành, ngại gì?

Thời đó chưa sẵn văn công, nhạc sống nhạc sít như sau này. Tôi rủ một anh bạn ở Hội Văn nghệ cùng đi. Hai đứa la cà hết chỗ bí thư xã, lại sang đoàn thanh niên, đến nhà xã viên tích cực để lấy tài liệu. Một vở kịch không ra kịch, tấu không ra tấu được hoàn thành. Tổ văn hóa kiêm luôn bảo vệ của hợp tác được chọn phân vai, làm gấp cho kịp diễn để khánh thành nhà văn hóa. Lưu có thói quen thích đánh cờ. Cơm rượu xong là mặc cho tôi và "kịch tác gia" giáp vai cho mấy em, còn mình thì xà vào bàn cờ. Lúc ngồi chơi cờ, có người đưa hóa đơn chứng từ đến, kê đùi mà ký. Miệng còn nói đùa: - Tao mà vào nhà đá chúng mày phải đưa cơm đấy!

Ngày khánh thành rồi cũng đến. Lưu mời rất đông khách đến dự. Một số xã lân cận ở khác huyện cũng được mời. Hắn nói với tôi một cách chân thành:

- Ngày xưa làng tôi nghèo lắm ông ạ! Không có cả cái đình cho dân sinh hoạt... Thật ra tôi cũng làm một cái đình đấy thôi. Bao nhiêu tiết mục văn nghệ được đưa ra diễn. Đến vở kịch tôi viết thì ông trưởng ban tuyên huấn của huyện tỏ ra phân vân:

- Không nên diễn, vì ca ngợi nhân vật chủ nhiệm hợp tác xã hơi quá... Công lao là của tập thể. Làm như vậy có phải là chủ nghĩa cá nhân không? Tôi rất bực nhưng không muốn gây căng thẳng nên đành thôi. Thế là công lao của kịch sỹ nửa mùa, đạo diễn rởm và đoàn kịch bất đắc dĩ đi đời nhà ma. Nhưng như bao cuộc đình đám khác đến lúc nâng bát đũa vẫn rào rào như tằm ăn dâu. Lưu mướt mồ hôi như cò bợ, nói phào cả hơi rượu vào tai tôi: - Thầy tôi cũng làm hương kiểm mà không lo được cái đình cho dân...Tôi lo được ông ạ! Dù có vất vã, bở hơi tai mà chạy vạy vật liệu.

Không nói đến công xá gì cả, cái bực vì vở kịch không ra mắt công chúng cũng qua đi. Có lẽ phải vài năm sau, tôi không lên Vinh Quang. Không phải do quan hệ với Lưu có vấn đề gì, mà chuyện đi viết lách đưa tin như vậy cũng không còn thú vị nữa. Cái mốt của thời kỳ ấy cũng qua đi, khi mà các huyện, ngành người ta thích ra sách để "lưu danh thiên cổ". Vả lại, vợ cũng trách móc về sự lang thang của tôi, không chăm lo cho cái gia đình nhỏ bé này. Đi viết báo chỉ lo được miếng sốt có nghĩ gì đến vợ con đâu. Nhưng cái vận có đất làm nhà cũng đến. Tôi kiếm được nơi cái ao người ta lấy đất làm lò gạch. Nhờ tàu hút bùn từ sông nhà Lê vào lấp là có thể xây được nhà. Thôi thì vay mượn gì cũng cố mà lo cho xong vài ba gian cấp bốn kẻo bị vợ và gia đình phàn nàn về điều tiếng rượu chè. Tôi đang loay hoay làm nhà thì Lưu tìm đến khu định cư hồ Tiền Phương. Thú thật, tôi cũng không khỏi mừng thầm, chắc nó nghe ai nói tôi làm nhà nên đến thăm và viện trợ cho chút đỉnh đây. Ngồi ở "bãi chiến trường" ngổn ngang gạch vôi xây dựng, uống chén rượu suông với mấy hạt lạc rang "đầu thừa đuôi thẹo" loại ra, bóc lạc thuê cho ngoại thương. Bộ mặt Lưu rầu rĩ.

- Tôi nguy rồi ông ạ!

- Làm sao lại có chuyện nguy, ông chả đang làm ăn như diều gặp gió đó thôi?

- Đó là mấy bài báo nó hại tôi...

- Làm sao lại ra nông nỗi ấy được?

- Hội trường... lúa gạo... Thôi thì đủ cả... Giọng của Lưu ngẹn lại. Bữa trước hắn tự tin bao nhiêu thì nay không còn một chút nhuệ khí nào.

- Các ông anh ở huyện...không ra tay cứu vớt được hay sao?

- Có được thế tôi đâu đến nông nỗi này! Cầm chén rượu trong tay, đưa lên miệng lại đặt xuống. Có phải lúc khác hắn dô cho người ta uống. Lưu có triết lý đến hay:- Bỏ tiền ra nhìn người khác ăn uống mới sướng làm sao?

- Anh có quen biết mấy ông Công an, Viện kiểm sát hay Tòa án không? Tôi chết lặng đi khi nghe Lưu hỏi. Tôi buồn thật sự. Tại sao tôi không nghĩ ra điều ấy. Người ta thấy quyền lực thì lao vào để nhờ vã, thậm chí còn lợi dụng. Mình thật không có một chút vốn liếng nào, còn nói chi đến đầu cơ.

- Tôi biết ông đang lo làm nhà mà không giúp được gì!

Tôi muốn làm cho Lưu một điều gì đó, mà bất lực. Nhìn bộ mặt thiều não của Lưu chắc ai cũng muốn cứu giúp chứ nói chi là tôi. Tôi và nó từng chén chú chén anh. Tôi hỏi nó một câu ngớ ngẩn.

- Ông không khai ra một vài thằng sao?

- Ông bảo mình sai chúng nó chở lạc, gạo nếp, thịt lợn đi tết người ta...Chả lẽ mở mồm ra yêu cầu họ ký...Có mà họ đuổi ra khỏi nhà. Tôi chịu tất. Có khai ra chắc gì đã có người nhận, lại ảnh hưởng đến sự tiến bộ của họ. Thôi, mình tôi chịu ông ạ... Chắc cũng chỉ mươi năm là cùng. Tôi không thể hứa hẹn gì, cũng không thể nói dối, quen ông nọ bà kia đi nói giúp cho hắn nhẹ tội.

Đó là đêm dài, nặng nề trong đời tôi. Tôi bảo nó dậy mà hút thuốc. Hắn kéo mấy hơi điếu Bông sen rồi ném đến xèo một cái xuống vũng nước, nói một câu chua chát:

- Tôi cũng phải chịu đựng cho nó quen đi ông ạ!

Tôi nghe mà muốn khóc quá.

Bây giờ thì tôi đến gặp quản giáo.Tôi cũng nghe mấy ông bạn nói, ông quản này cũng thích văn thơ. Cầm giấy thiệu, ông giám thị nói đùa:

- Có phải Lưu cò hương không?

- Đúng đấy, hắn gày nhom mà tóc lại hoe vàng như người Bắc Âu.

- Đang chăn trâu ở ngoài bờ sông...Anh ra đó sẽ gặp đấy!

Tôi đi ra bờ sông. Mấy con trâu đang nhẫn nhơ gặm cỏ. Ơ dưới chân đê là những luống cải bắp xanh tốt. Vào xuân, cỏ ở chân đê xanh mơn mởn thật thích mắt. Nơi này giành cho việc chăn nuôi, trồng trọt của trại giam nên người dân không mấy xuất hiện. Một người mặc áo bạt lửng, mũ bông che tai, không rét lắm chắc là đang khoan khoái hưởng sự mát lành của mùa xuân. Như thói quen của phạm, nghe thấy bước chân, miệng vội phát ra tiếng chào, dù chưa kịp nhận ra người:

- Ông ạ!

- Lưu à!...Tôi vội vàng gọi.

- Ông...Lưu không nén được niềm vui, cầm lấy tay tôi run run.

- Tết qua rồi... tôi đến thăm ông. Tôi không khỏi ngượng ngùng vì quà bánh chẳng có gì nhiều nhặn.

- Anh đến thăm tôi là quý hóa lắm rồi. Mắt của Lưu đỏ hoe rơm rớm nước mắt.

- Có rượu đây, ta làm một chén chứ? Tôi hỏi.

- Chờ tôi. Nói rồi Lưu đi men theo bờ ao. Rón rén đến chiếc cọc chôn sâu dưới mặt nước. Hắn khẽ kéo chiếc thừng, một chiếc can nhựa năm lít lộ ra. Thận trọng như một tên ăn trộm, kéo chiếc can lên khỏi mặt nước, nhìn trước nhìn sau xem có ai theo dõi không. Tay khua khoắng móc lấy một chiếc chén màu da lươn từ dưới bùn lên, rót ra chén rượu rất khéo, chỉ vừa cái ngấn viền không rơi ra một giọt.

- Anh uống đi!

Xua tan không khí nặng buồn, tôi hỏi:

- Ơ đây có được không? Biết là rất dở mà không thể tìm được lời nào diễn đạt hay hơn.

- Nhờ trời cũng được!

- Sao lại nhờ trời?

- Tôi sống cũng không đến nỗi tồi... Trồng trọt chăn nuôi đâu đến nỗi. Ông tưởng tôi chỉ biết uống rượu thôi à? Lưu cười. Tôi nhận ra cái cười đầy sinh khí, pha chút láu cá.

- Không có một nghề là nguy ông ạ! Tôi được trại chiếu cố, trong đội tăng gia. Lại quản lý bếp ăn... May quá. Các ông ấy cho ra chăn trâu. Chả là, mùa đông, cái phổi tôi nó yếu...vì thế không đi lính như các ông mà...

Tôi được biết, bằng giờ sang năm Lưu sẽ được ra tù. Hắn nói một câu làm tôi phát ngượng.

- Sang năm tôi được tha... Thế nào cũng phải đến để thăm và cảm ơn vợ chồng ông... Đi gặp mấy người bạn đánh cờ ngày xưa... Họ cũng làm to rồi. Đánh cờ là một thú. Hắn cười.

- Người ta biết tính nên đời không đi sai nước... Còn mình...

Tôi định hỏi xem những ai đến thăm Lưu trong lúc ở trại giam, như thế có vẻ thế nào ấy nên lại thôi.

- Thôi mà, ông sẽ bày ván khác, lo gì? Tôi nói với Lưu và nuốt ực ngụm rượu vào trong họng.

Có thể bạn đọc sẽ hỏi cái đoạn sau này, Lưu ra tù. Ai cũng biết rồi. Không cần nói lại nữa làm gì.

                                   Trại sáng tác Báo Công An

                                        Sầm Sơn / 26/10/2009

  

 

 

Có những lúc

nguyentinh | 22 August, 2011 17:12

   Có những lúc ngập ngừng không muốn viết

   cũ quá

   không ra hình ra dạng

   Sợ làm phiền vô cớ người xem

   ồn ào sợ mình không có duyên

   Hài hước còn khó hơn bi kịch

   Chờ một lá thư của người mất tích

   Không quay về

   sự mất tích không về

   Buồn

   Không làm được gì

   cái buồn của người buồn

   Cái kính như bà đỡ của mắt

   cũng quên để đâu

   Chỉ còn một việc may ra liều không biết sợ

   Viết ra điều gì

   lại sợ không hay

   Làm duyên làm gì còn duyên mà gây sự

   Khôi hài, e méo mó miệng và răng

   Ta liều mà tung lên

   Như lúc bắt đầu tập nói

KẺ ĐÀO TẨU

nguyentinh | 18 August, 2011 15:42

 

    Kẻ đào tẩu

                                                 Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

Đ

êm ấy có ba người cựu chiến binh ngủ lại ở nghĩa trang Trường Sơn. Họ xin quản trang, chúng tôi tổ chức chuyến đi xuyên Việt, đi qua những địa chỉ lừng danh của dân tộc. Chúng tôi muốn ngủ lại đây một đêm để trò chuyện cùng những người đồng đội. Tuy có vẻ quái gỡ, nhưng họ cũng được toại nguyện, chọn một chỗ có nhiều cây, yên tĩnh, gom được ít củi khô, nhóm lên. Họ nói với nhau, có lẽ trên đời này, có một loại người, dễ làm thân và quen  nhau nhanh nhất và lâu bền là người lính. Đặt chân đến đâu cũng là đồng đội, gặp nhau chung một chí hướng là chiến đấu và chấp nhận sự hy sinh. Họ đem theo lương khô và có cả đồ nhắm. Họ buộc võng chụm đầu vào một gốc cây trò chuyện thâu đêm.

Người to cao có bộ râu quai nón, giọng nói ồm ồm:

- Tớ thấy các cậu chuyện vãn nhiều rồi - Hồi ức đẹp kể không hết được. Bây giờ các cậu thử kể một chuyện về " Những thằng đào tẩu " xem nào. Nói đến mấy tiếng những thằng đào tẩu, ông dằn giọng, sợ các bạn không nhận ra sự giận giữ trong lòng. Tay khẽ cời cho củi cháy lên bừng bừng. Đôi mắt đăm đắm nhìn vào ngọn lửa. Đoạn tay vớ lấy chai rượu, rót ra ba chiếc cốc nhựa, tợp một tợp lại đặt xuống, cơ mặt run lên bần bật.

- Phải rồi. Tiểu đội tân binh lúc tập trung là bảy thằng. Thế mà còn lại ba. Mình thì biền biệt tận Đất Mũi, cậu Khang mày ở Quảng Trị hả?

- Em ở Quảng Trị, từ lúc chia tay đến ngày được trao trả sau hiệp định Pari, ngày 27 - 01 - 1973…Hàng chục năm trời mới lấy lại được danh dự của con người. Muốn rủ các anh vào đây để thắp hương cho tụi bạn…. chúng nó vì em đã ngã xuống…

- Thôi mà, Khang... mày như thế cũng được rồi. Vợ con đàng hoàng, chẳng gì cũng khôi phục lại Đảng tịch. Tớ mới cú cái thằng Tầm…Nó đang sa sả rao giảng về đạo đức cho các em kia kìa. Nó là thằng đào tẩu… thằng mất dạy… cái đồ mất dạy.

- Anh Đức, dạo ở Đất Mũi có dính vào cô nào không?

- Thôi Khang, để thằng Tâm nó kể về tên đào tẩu xem nào?

Tâm cầm lấy cốc rượu chiêu một ngụm… mắt nhìn vào ngọn lửa cố nén xúc động, nét mặt rầu rĩ…Chỉ chờ có người gợi chuyện là nỗi bất bình như cái nút được bật mở...

Sau đợt máy bay B52 đến đánh phá Hàm Rồng vào tháng 4 - 1972 - Đơn vị em được bổ sung nhiều tân binh. Tân binh đợt này rất đặc biệt. Ở địa phương, các trường Đại học và các cơ quan, xí nghiệp. Đợt lấy quân tổng động viên này cho cú oánh quyết định mà lại, sinh viên các năm đều được động viên nhập ngũ. Đơn vị của em được đón mười hai tân binh. Một số lính thung dung thì không nói đến, nghe nói được đón sinh viên ai mà chẳng vui. Phần lớn pháo thủ và trắc thủ văn hóa rất thấp, tốt nghiệp lớp 7 là khá. Được vài anh học cấp 3 ưu tiên cho khí tài. Còn đa số pháo thủ học rất thấp, tranh thủ thời gian rỗi, đơn vị mở lớp bổ túc cho học hết cấp 2. Tiểu đội Rađa được bổ sung hai lính mới. Được, học năm thứ 4 trường Nông Nghiệp làm máy nổ. Tầm giáo sinh năm thứ 3 được phân công làm số phụ. Số phụ được huấn luyện các chương trình như số chính, tất nhiên có báo động máy bay kíp chính tham gia đánh. Kíp phụ đi ẩn nấp, hoặc họa hoàn lắm số chính đi vắng mới được cầm máy. Tầm khá hoạt bát, nói chuyện với tiểu đội rằng từng thao giảng ở trường đại học. Nếu không có chiến tranh thì sang năm ra trường. Triển vọng ở lại trường Đại học làm phụ giảng. Nhưng xung phong nhập ngũ lần này, Tầm còn có tham vọng, nếu sống được, sẽ làm nhà văn. Anh ta không cần giữ ý tứ gì sất. Cánh lính văn hoá thấp để tuột mọi sự kiện và các trận đánh mất rồi. Tầm lướt qua một loạt tờ báo tường, nét mặt đăm chiêu…Có bàn tay chuyên môn, biết đâu các bài viết có thể dùng tàm tạm. Nói  rồi nét mặt của Tầm đã toát ra sự nghĩ ngợi xa vời. Bảo không ưa thì không công bằng. Bảo thật đáng ghét cũng thật vô cớ. Cái dáng thư sinh, lễ độ đã chiếm được cảm tình của tiểu đội. Tầm lấy ra bánh thuốc lào QX mời mọi người. Thuốc lào mềm, yểu dinh dính tay, chưa hút đã cảm  được khói ngọt và say. Tầm viết kịch và diễn kịch ai cũng cảm tình. Anh ta nhập vai lão nông chi điền tự nhiên, táp lự. Trực đêm, Tầm đọc vanh vách từng đoạn truyện Tam Quốc diễn nghĩaTây Du ký... Kỳ lạ, hắn thuộc lòng không chê được, bảo đọc chương nào, hồi nào là y rằng, không sai một chữ. Mọi câu chuyện đến miệng Tầm trở thành hài hước, có duyên một cách lạ lùng. Tầm lấy lòng được mọi người, những hôm tiền bồi dưỡng trắc thủ, quản lý giải quyết cho cân thịt thủ, chân dò, ít xương, được bàn tay khéo léo của Tầm đã thành bữa ăn tươi thịnh soạn. Tầm xuống làng Đông Sơn, xin rau thơm về, sẵn củi bổ từ hòm đạn ra, đạo diễn các món ăn "quê mùa" như hắn nói, một cách chóng vánh. Nào thịt nướng bọc lá lốt, giã cày, chua ngọt. Tất nhiên bữa ăn tươi ấy được mời thêm chính trị viên, đại đội trưởng tham dự. Ngã mâm ngay chân đồi mà chén. Ai bảo chiến tranh, không tìm ra cái đẹp thơ mộng và sự kỳ diệu, nào? Cơm thừa, Tầm gom lại, cái phơi khô, cái để lại, chả hiểu kiếm đâu ra men, ủ rượu. Cái thì ăn không hết, đưa xuống các mẹ nhờ cất rượu. Rượu có khi đắng ngắt, có khi chua lòm nhưng Tầm cho vào lá và rễ cây ở sườn đồi nên có vị thơm đến lạ. Chiến tranh, đào đâu ra rượu, Tầm quả là người có tài.

Chuyện tình duyên của Tầm cũng kỳ lạ lắm. Hắn bảo năm thứ 3 đi thực tập về ngoại thành Hà Nội, gặp một cô giáo cấp hai nom sạch nước cản cưới liền, được cái nhà vợ gia giáo lắm. Ông bố làm ở Bộ giáo dục, trong Ban tu thư. Mai kia, Tầm ra trường chắc chắn nắm cái chân phụ giảng.

Tôi vốn là người ít học nên gặp người có chữ nghĩa là mong mỏi được trao đổi. Mong sao qua họ mà bù đắp cho mình những điều mà chiến tranh cướp mất. Tất nhiên Tầm cũng biết tôi là người ham viết lách nên gần gũi chuyện trò, như bạn hưũ đã thân quen nhau từ lâu. Tôi nói đùa cùng Tầm, cánh pháo thủ giơ mặt ra chịu đạn bom, còn tụi mình ngồi trong máy như ngồi ở boong ke, không may tên lửa phóng trúng thì mới sợ, chứ bom bỏ cạnh cũng chả ăn nhằm gì. Tầm tâm sự, hắn bảo hắn muốn chiến tranh qua nhanh, lấy cái chứng chỉ "đã trải qua chiến tranh” để đi học tiếp. Chứ giơ mặt ra chịu bom đạn thì tiếc cái công bao năm rèn rũa. Vả lại cái chân giảng viên Đại học để lại cho ai. Tôi thật không hiểu nổi bộ mặt thật của Tầm. Mỗi lần học chính trị hắn xung phong lên phát biểu, nói rất kêu. Hắn xác định có thể hy sinh vì cầu Hàm Rồng, còn người, còn vũ khí là còn chiến đấu. Hắn nói một câu, hắn bảo vì tin tôi mà tâm sự, chứ lọt vào tai các gã nông dân mặc áo lính thì nó thù chết. Cái thằng lính nhà quê, ít văn hóa thì hy sinh đã sao, chứ loại nó thì hơi bị phí đấy. Tôi nghe mà căm giận lắm. Nói ra với mọi người chắc không ai tin. Tầm rất được lòng mọi người. Hơn nữa tôi cũng nghĩ quá đi. Tri thức là phức tạp, mình làm sao mà hiểu được họ. Điều này mới tệ hại. Tôi là tổ trưởng tổ Đảng, đã giới thiệu hắn vào diện cảm tình mất rồi. Về cơ bản, Tầm cũng chưa bộc lộ điều gì là hoang mang giao động. Tầm chả cùng tôi đọc từng câu thơ, hắn chẳng nói vỗ vào mặt tôi đấy thôi. Anh mà được qua trường đại học thì tốt biết mấy. Anh có hội chứng về nghệ thuật. Cái thằng, đểu thế. Sau này tôi mới vỡ ra, hội chứng là giành cho con bệnh. Hắn bảo tôi là thằng thần kinh. Ngu mà giám cầm bút…

Một đêm có báo động, chúng tôi ra vị trí trực chiến. Không hiểu thế nào tôi lại nói với tiểu đội trưởng. Anh để cho Tầm nó thay tôi cho nó quen đi, chứ để cho nó đi lấy cơm, xì xèo thổi nấu, rửa bát mãi cũng tội. Chẳng gì Tầm cũng là trí thức. Tiểu đội trưởng còn ngần ngừ, tôi đã dẩy nó vào vị trí chiến đấu. Bàn tay tôi chạm vào vai nó, không nói quá đâu, nó run làm tay tôi cũng lây nỗi sợ. Mặc dù căm giận mà vẫn đẩy nó lên máy với vẻ coi thường kẻ cả: - Lên đi! Cố gắng nghe lệnh cho nó tốt vào. Có ai ngờ, đêm ấy máy bay phóng tên lửa sraike vào Rađa  của đơn vị tôi. May các trắc thủ đã kịp đảo parapôn, tên lửa rơi ngay ở cửa công sự. Tôi bị thương được đưa cấp cứu ở tuyến sau. May mắn làm sao, chỉ bị thương phần mềm. Cái tai bị ù không nghe được gì, Tầm đã thay thế tôi, làm số chính của tiểu đội. Chả hiểu sao, cậu lại còn được đề nghị quân chủng cấp bằng khen về tinh thần dũng cảm. Sau này thì tôi được biết, hắn bảo thấy tôi ngồi co ro ở gầm máy nên nhảy lên vị trí chiến đấu. Không ai tin cả, nhưng tin hay không còn giải quyết được gì. Tôi đi khám thương tật, bác sĩ kết luận 19%. Chưa phải là thương binh nên về đơn vị cũ. Thật lòng tôi không muốn xa đơn vị. Thấy tôi không thể nghe và truyền lệnh được nên xếp làm quân khí của đại đội, chả khác gì bị kỷ luật. Người ta tham gia đánh đấm, mình thì lo giàu mỡ, đi lĩnh giẻ lau pháo.

Một lần y tá đi vắng, tôi được giữ luôn túi thuốc cấp cứu của đại đội. Tầm kêu đau bụng. Nó tìm tôi để xin thuốc. Không hiểu sao, tôi lại cấp cho nó viên sắt. Cậu uống vào, mặt trơ tráo nói rằng đỡ nhiều rồi. Tôi bảo Tầm, ông nằm nghỉ một lúc, tôi có công chuyện phải ra ngoài. Các ông có biết sao không. Tôi bị mất giấy khám thương tật 19% và một giấy báo thương của đơn vị. Giấy báo thương, thật ra chẳng có gì  quan trọng với người tử tế. Nhưng với kẻ lợi dụng có thể điền tên vào, xem có vết sẹo, tim phổi, dạ dày khai bừa vào, sức ép của bom đạn trong chiến tranh, ai mà biết hết được. Ai ngờ được, cái thằng Tầm lại có giả tâm xấu xa ấy. Nó chuẩn bị cho việc chuồn khỏi đơn vị. Lúc đó tôi thật sự không chú ý đến việc mất giấy khám thương tật. Tôi không nhớ để ở đâu nữa. Tôi không hề cần sử dụng nó làm gì, mong muốn được chiến đấu, giấy tờ ốm đau có nghĩa lý gì mà chuẩn bị.

Tâm ngồi yên lặng, không muốn kể tiếp câu chuyện của mình.

Đức thấy lửa đã tàn, vội vàng cho vào mấy cành cây. Đoạn rót rượu từ can ra đưa cho Tâm. Không chịu nổi bộ mặt lầm lỳ của Tâm, văng tục:

- Thế cái thằng mất dạy đó ở đâu rồi? Không xử nó à?

Tâm cười:

- Nó chuồn rồi…. thằng đểu ấy chuồn rồi…

Tâm kể tiếp.Vào cái đêm máy bay B52 của Mỹ rải thảm ở Hàm Rồng, thằng Tầm vẫn có mặt ở trận địa. Nó kêu là đau bụng, tôi đã cho nó đâu chục viên sắt. Tôi không hiểu gì về thuốc, chỉ nhớ lúc nằm viện Quân y, bác sĩ hay cho viên sắt bổ máu. Uống vào chắc nó không chết. Và nó thấy có Pôlivitamin, cái của ấy là loại quý, mấy khi lính được dùng. Nhưng đâu có ngờ, uống Pôlivitamin vào, Tầm đi tiểu màu vàng khè, không ai biết mô tê gì nên đại đội lại bảo, Rađa kéo đi đại tu ở Hoằng Hóa, rồi tăng cường Tầm cho anh nuôi. Đó là kết quả những lần nó trổ tài thao tác đấy. Ai ngờ được, tạo điều kiện cho thằng mất dạy đào tẩu. Nó xin ông cán bộ đại đội, rằng lên Quân Y, kiểm tra xem có bệnh gì nghiêm trọng không. Rồi từ Quân Y nó đi đâu, không ai mà biết được. Nó biến luôn khỏi Hàm Rồng mà không một lời chia tay với tôi. Cái thằng mồm miệng xơn xớt vậy mà tà tâm.

- Thế đơn vị không đi bắt hắn à?. Khang có vẻ cáu.

- Bắt bớ gì…Quân Y cho nó đi mà lại.

- Chán nhĩ! - Đức cau có, ném vào đống lửa một vài thanh củi, lửa cháy bùng bùng, soi rõ nét mặt căm giận…chà, cái thằng tệ thật…

- Sao các cậu không tìm nó mà bắn bỏ, cái loại phản bội, ăn cháo đá bát ấy?

Sau chiến tranh tự tôi đã đi tìm nó…Ai cũng bảo, khen nó là con người có trách nhiệm. Bị thương mà không rời trận địa. Dịp kỷ niệm Hàm Rồng, và giải phóng miền Nam, được mời nói chuyện, hắn kể rất xúc động. Hắn bảo, mặc dù bị thương mà vẫn cõng đồng đội qua lửa đạn, coi thường tính mạng.

- Nó đào đâu ra cái thẻ thương binh? - Khang hỏi.

- Thì hắn đã cỏm cái giấy thương tật của tôi và ăn cắp cái giấy báo thương mà lại.

- Sao ông biết? - Đức gặng hỏi.

- Thì còn ai vào đó…Nó cùng họ với tôi mà. Nó chỉ việc viết vào cái giấy "lưu không" thôi mà.

- Thế các cậu có tìm ra nó không? Tìm chứ! Nó đã có chức vụ. Nó rao giảng cho người ta về trách nhiệm làm người.

- Bọn tôi bàn, hay cứ xông vào mà trói gô cổ, dẫn nó về Hàm Rồng, ném xuống Sông Mã cho xong đời. Không thể xông vào được, đi báo cáo với Bộ giáo dục và Bộ thương binh xã hội. Hay cứ nện  cho rồi đời nó đi…

Đêm bắt đầu lạnh, giá rét của Trường Sơn cũng lạ. Mây mù ở đâu cuộn lại. Đốm lửa như con mắt chòng chọc, nhìn màn đêm thăm thẳm.

*

Khang loay hoay nằm trên võng lại xuống cời than cho lửa cháy bùng lên. Cuộn một mồi thuốc kiểu thuốc rê đồng bào miền núi Quảng Trị vẫn hút. Khang có thói quen rất cực đoan, trồng thuốc đến kỳ thu hoạch chặt cả cây phơi khô. Đi đâu cũng mang một bịch to đặt lên bàn. Người ta hút thuốc lá thơm cũng mặc. Hắn xếp lá to, rồi lá rách, cuộn lấy từng điếu to phì phèo châm mồi lửa. Mùi thuốc nặng đánh ạt mùi thơm của thuốc đầu lọc. Làm người ta hít phải ho lên, chảy cả nước mắt nước mũi. Hắn hít vào đầy họng rồi phun ra, có vẻ khoan khoái. Đêm nay nó đã mồi đến ba lần, mà cuộn thuốc có dễ bằng bắp tay. Có lẽ khí lạnh của màn đêm Trường Sơn làm thuốc tắt, hoặc đi đường mệt mỏi. Những vết thương do đánh đập tra tấn trong trại giam của địch, gặp thời tiết  khó chịu đau nhói…Nó nói giọng buồn thiu…

- Tôi được trao trả năm 1973, sau khi ký Hiệp định Pari đình chiến ở Việt Nam. Phải mười năm mới khôi phục nổi Đảng tịch. Vợ tôi, một cô gái chân quê, có lúc thấy tôi buồn rầu, khuyên: - Anh không phải chạy chọt làm gì cho nó khổ. Miễn là em biết em yêu anh, chứng nhận cho anh là người trung kiên là được rồi. Thật ra tôi không ham khôi phục lại đảng cho nó oách, hay mong cầu một chức tước gì cả. Cái danh dự của mình bị huỷ hoại, làm sao mà chịu nổi.

- Cậu không đầu hàng địch chứ? - Tâm hỏi bạn không úp mở.

- Làm gì có chuyện ấy! - Khang bập cho mồi thuốc cháy bùng lên, kiểu người ta thổi nùn rơm.         

Tôi bị bắt cũng thật kỳ quặc. Mũi của tôi đánh vào Quảng Trị, bị thương vong gần hết. Tôi cõng trên vai thằng Thân, men theo tường đổ nát của trường Bồ Đề may ra tìm được đồng đội. Thằng Thân to con không chịu được đau nên rên rẩm, đòi uống nước. Làm sao tìm được nước bây giờ. Đến gốc bàng  nơi sân trường, đặt Thân nằm xuống, tôi nói cùng Thân: - Mày nằm lại đây…Tao đi tìm nước xem sao. Chả là trước đây tôi đã đi điều nghiêm vài lần nên biết được phía sau trường có một giếng hoang, là một điểm mà tôi ghi nhận, nếu xảy ra chuyện bất đắc dĩ phải nhảy xuống cố thủ. Tôi cũng bị thương vào bắp chân trái và vai phải. Vết thương lộng lên tận óc. Có phải bình thường đã nhập viện, nhưng lúc này mà không rút ra khỏi thành Quảng Trị, làm sao có thể sống nổi. Tôi xé chiếc ao lót ra làm thừng, buộc chiếc ăng gô vào thả đại xuống giếng may ra có thể lấy được nước, thế mà có nước thật. Giếng không có ai dùng nên tanh và lợm. Uống vào thì mát, nhưng ngửi vào thì buồn nôn. Lúc đó không có quyền lựa chọn, tôi rót đầy hai bi đông của Thân và tôi rồi bò đến gốc cây bàng phía bức trường đổ nát, nơi đặt thằng Thân nằm ở đó. Tôi chưa kịp đưa nước cho Thân thì  những họng súng đã dí vào đầu không kịp xoay sở. Thân nó gào lên có vẻ rất ân hận.

- Tao đã khai với tụi nó mày đi lấy nước…Tao sợ một mình sẽ không chịu nổi. Mày hãy tha thứ cho tao nhé!

Cái thằng, đánh nhau thì gan lì. Trận đánh ở Cửa Việt, nó bị thương hai lần không chịu rời trận địa, thế mà lần này nó không chịu nổi.

Chúng nó dáng cho tôi một báng súng. Lúc tỉnh dậy đã thấy mình ở trong trại giam của địch rồi. Bọn chúng đã biết mình rất rõ. Thằng Sỹ quan cầm tờ giấy khai sẵn, bảo:- Đọc đi, rồi ký vào tờ khai. Tôi nghĩ, vào đây chỉ còn chờ chết, đằng nào mà chẳng chết, quyết không đầu hàng. Chúng nhốt tôi vào khu biệt giam, hàng ngày ăn gạo mốc, cá thì tanh như mùi nước giếng hoang ở trường Bồ Đề.

Một tháng sau, tôi được dẫn ra gặp người nhà, chúng nói gặp người nhà làm tôi hết hồn. Lẽ nào ông anh tôi đi B cũng bị bắt. Anh tôi mà bị địch bắt, hoặc làm cho địch thì nỗi đau đớn này nói sao cho hết được. Lòng đầy lo lắng, không hiểu hư thực ra làm sao. Đang suy nghĩ rất lung tung, thì thằng Thân chạy ra bắt tay:

- Chào đồng chí !….Có giận tôi không?

- Thân!...Tôi thấy đắng miệng không nói được nên lời.

Nó bảo nó khai tôi là Đảng viên, là tổ trưởng tổ Đảng. Trung sĩ nhất, tiểu đội phó. Nếu ưng thuận thì bên này họ giao cho làm chức vụ cao hơn. Tôi muốn chửi tổ bố nhà nó, sinh ra cái loại phản bội. Tôi muốn giằng lấy khẩu súng nơi tay thằng lính cho một phát cho chết cái đồ chó, mình có bị chết cũng đành lòng. Đoán được ý nghĩ của tôi, tụi nó còng ngay lấy tay. Khó chịu nhất là thằng Thân, nó bảo phải chờ mãi mới có dịp may để về với chính nghĩa. Nó dúi vào tay tôi mấy tờ bạc ngụy, bảo rằng đã lãnh lương mới rồi…Sắp tới hắn đi Học Viện  Quân sự Đà Lạt. Ở phía mình phấn đâu có công bằng, trầy vẫy ra mà chỉ quân hàm trung sĩ. Người ta ưu tiên cho cái bọn khố rách áo ôm lên làm lãnh đạo…

- Thế hắn giờ ở đâu rồi? - Đức hỉ mũi hỏi.

Sau này thì hắn ngồi trên máy bay đè tên mấy ông chỉ huy ra mà chửi. Những chuyện lúc là lính với nhau, vui lúc trên đường hành quân nó cũng đem ra rêu rao trên máy bay. Nó gọi cả tên cha tôi ra mà rủa. Cái tội của ông là sinh ra đứa ngu, bị đối sử chẳng ra chi mà vẫn bám lấy cái bong bóng hão... Nó được xung vào sĩ quan tâm lý chiến. Chắc là hắn còn lên cao…cái thằng rất có năng khiếu nịnh…ở phía nào thì hắn cũng nịnh đều được cả.

- Thế hắn ở đâu rồi? - Tâm nóng ruột hỏi.

- Có thể ở Mỹ…Hay đâu đó. Nghe đâu đi học tập cải tạo một thời gian rồi được thả ra. Không sinh sống ở quê. Lấy ngay vợ bé của thằng trung tá chết  trận  ở Sài Gòn. Con vợ giàu có, cha làm bên Mỹ, đã bảo lãnh cho Thân sang định cư bên đó. Nếu không đi theo diện ấy, nó cũng đi theo diện OH…

- Thằng chó chết ấy ở bên Mỹ à? - Đức không nhịn được chửi thề.

- Hắn có về nước, cắp cặp căng phồng đôla, đi với con vợ về tìm đối tác đầu tư. Hắn có tìm gặp tôi và bảo nếu ưng nó phong cho làm quản lý nhân sự. Ông có thời đã làm nhân viên quân lực nên thạo việc. Vỗ vai tôi hắn bảo, "xếp lại quá khứ, hướng tới tương lai" mà làm ăn, người ta chỉ cười thằng nghèo thôi. Giọng nó tự tin, cái mặt nhơn nhơn, đẹp trai, lịch sự, không ai hiểu được nó có phải cái thằng Thân năm nào cùng ở chung một chiến hào.

Một làn gió thoảng đưa mùi hương bạt ngàn từ những bia mộ nơi nghĩa trang lại. Đêm bắt đầu trở lạnh, bàn tay Khang vẫn lập lòe mồi thuốc.

- Cần gì ngữ ấy…Đồng tiền bẩn thỉu ấy…

Con vợ tôi nó bảo thế…May mà vợ cảm thông, nhắc tôi phải sống cho trong sạch…cái túng thiếu nhiều khi cũng nhục lắm…

*

Đêm lạnh. Tiếng bày chim ăn đêm đang bay về tìm tổ, hoặc đi ăn đêm, cần mẫn quên cả lối về.                             

Đức bảo hắn không muốn kể chuyện này ra, nó đau lòng lắm. Chuyện của những kẻ sợ chết, bán đứng bạn bè, hay phản bội trong chiến tranh, sử sách ghi lại đầy rẫy ra rồi. Trong bia miệng thế gian, chẳng đã nói đấy thôi. Những người chết oan uổng, nhiều khi chỉ vì tính ích kỹ, hèn yếu của một người hay một nhóm người mà gây nên tội lỗi, bị vùi lấp trong im lặng. Trong một trận đánh, cấp dưới góp ý cho anh, rằng nếu đánh sẽ thất bại, sẽ nướng quân; nhưng anh không thèm nghe, cho rằng có quyền gì mà dám dạy khôn cho ta chứ. Vênh váo, tưởng mình là cấp trên, sẽ đúng tuốt. Quyết định rồi. Đánh thôi. Có những cái chết mà đáng ra không nên có. Lấy ai mà nói lên, cái đau ấy? Nhưng quên đi. Đến kẻ thù của nhau ở cả hai phía, mà nay ngồi chén tạc chén thù trong  mâm, giải sầu. Họ là bà con, ruột thịt mà lại. Thậm chí người anh theo ba ra tập kết, đứa em ở lại cùng mẹ, bị bắt lính. Chiến tranh, cũng bị lây bởi mùi khát máu của súng đạn. Không bắn sao? Anh có thể chết. Bây giờ, con cái sinh ra cùng một mảnh đất, chúng làm sao mà không bị cuộc đời tự nhiên thức tỉnh, tình yêu lứa đôi nẩy mầm. Chúng lấy nhau. Ai cấm đoán chuyện này. Định đào hố ngăn cách sự thống nhất đến bao giờ?

- Ông bảo cái thằng Thân nó không trực tiếp đánh tôi, nhưng chỉ điểm cho bọn ác ôn lột da tôi thì sao? Đây này, ngay lúc này ông sờ vào còn nhức mỏi...Khang ném những que củi vào đám than hồng cho cháy lên bừng bừng như thể trút cơn giận bất thần vào đó.

- Tha ráo...Hãy tha thứ cho kẻ có ý thức và vô ý thức trong chuyện này...Những cái đó... chưa là chi hết. Đức đây này! Mình mới đáng chết. Mình đã phản bội lại tình yêu, người mà trong lúc này, hễ mà đặt tay lên ngực là thấy trái tim đang đập và máu đang chảy, nó nuôi sống ta hàng ngày? Có đúng không, ai bảo máu chảy ruột mềm, hở các cậu?

Nghe Đức nói thế mọi người đều im lặng. Không ai muốn tranh luận với Đức làm gì. Điều đó có vẻ nhẫn tâm, một người đang đau khổ cùng cực. Anh lấy cái lý của mình ra áp đặt, mà xoa dịu, rằng không đau, không đau. Vô lý. Đức đang lên cơn co giật, mặt mũi méo mó đến thảm hại.

Đức nói, giọng bùi ngùi, khô khốc, thiếu sinh khí. Phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh, không tự sỉ vả mình. Cô gái vùng Đất Mũi, tên là Thơm. Giỏi giang lắm, có kể không hết được cái hay của nàng. Người ta không thể hiểu nổi, ở trên cái Đất Mũi, mặn, nắng gió dữ dằn như vậy, lại có người trắng và đẹp như thế. Anh tới Đất Mũi xem, gặp cái lạ lùng. Giơ tay ra là vớ được gió, nó nắm được trong lòng bàn tay, ta có cảm giác vốc được. Ta hít thở, cũng no hơn, cái khí trời thanh sạch. Chắc không có ta nó đã thế, nhưng chỉ nằm yên, không có người để khoe sự hoang liêu, man dại. Bị thương như ta sau khi tỉnh dậy, cảm được điều đó. Giật mình vì khoảnh khắc lạ lùng ấy.Giật mình, một người con gái đang ngó trân trố vào mình, da lại trắng lạ trắng lùng. Hàm răng cười ánh lên, cái cười tưởng nơi cái răng, cái miệng lan lên ánh mắt, rất riêng lẻ bỗng nhiên hòa làm một.

- Anh ấy tỉnh lại rồi, may quá ha! Tôi nhận ra sự ấm áp ấy. Một chút bất ngờ. Biết là mình bị thương không lên được tàu "không số" quay ra bắc.

- Anh yên tâm nằm lại vài ngày cho khỏe nghen!- Cổ nói với tôi, như thể tôi bị ốm nhẹ, qua trạm phẩu cho chiếu lệ. Nói là trạm cho nó oai, thiếu thốn đủ bề. Thuốc tây không đủ, nhờ cậy vào người ra mua ở các tiệm thuốc tây ngoài phố xá. Mua cũng không dám mua nhiều, sợ lộ. Phần nhiều nếu không có gì nghiêm trọng nhờ cả vào việc lấy lá cây thuốc nam của Thơm. Cái chân này, không dè lại nặng. Bác sĩ biểu, nếu có thuốc tây thì mau lành. Để lâu mà không chữa kịp thời, có khã năng sẽ hoại tử, biết đâu sẽ phải tháo khớp. Thơm nghe được chuyện, mắt em rơm rớm.

- Em sẽ tìm lá cây mà ba chỉ, may ra giữ được chân cho anh, anh đừng ngại! Bệnh nhân thì nhiều, không hiểu sao Thơm lại có cảm tình với mình. Những lúc rỗi rãi em chở mình trên chiếc ghe lẫn vào những con kênh xanh biếc. Người ta chỉ được nghe hát "con kênh xanh xanh" nhưng mấy ai được đắm mình vào rừng đước Cà Mau. Không ẩn mình vào bạt ngàn xanh ấy, anh chẳng thấu được câu hát đâu. Cái mát lành thấm vào da thịt. Tưởng chừng như đưa tay ra là túm được sự mát rượi đang thấm vào hồn mình, vào da thịt mình và hồi sinh, mọc lên những lớp da non. Cũng một phần do lâu nay phải dầm mình trên đại dương, sống trong đêm, không có ánh sáng từ những kẽ lá tia ra mà mình tưởng như mới được hồi sinh, được sống lại. Hay được bàn tay mát dịu, lạ lẫm, từ da thịt của Thơm mang lại cũng nên. Cái vị hoang hoải của lá cây, của hơi thở, nơi bờ ngực trinh nữ ấy bồi đắp cho mình có niềm tin để sống. Lạ kỳ, chỉ lá cây em nhai và đắp vào vết thương mà mùi hôi thối và ròi bọ không còn nữa. Một lớp da non mọc lên. Nhìn thấy nó là mình không nén được muốn hét to lên. Thơm ơi! Em đem lại sự sống cho anh rồi. Dẫu không cần nhờ đến bàn tay của Thơm cũng xuống được ghe, nhưng mình cũng giả vờ như yếu lắm. Không có Thơm giúp sức là không trèo nổi lên, không đi được vào ngõ ngách của bạt ngàn rừng đước. Nhưng cũng từ những va chạm, đụng tay mà những sợi tơ tình ấy cứ ngân lên. Chạy vào trong tim mách bảo điều kỳ diệu. Chúng mình yêu nhau lúc nào không rõ. Cũng không kìm được sự dồn nén lúc giáp mặt với sống chết, không nghĩ đến bao lâu nay. Mình và Thơm đã chấp nhận tình yêu mang cả hàm ơn mà Thơm cứu vớt thoát khỏi tật nguyền. Một dự định như là tự nhiên. Qua mùa mưa là chúng mình làm lễ cưới. Dù ai nói gì cũng mặc. Hạnh phúc này là điều tự nhiên. Nhưng điều không ngờ lại lù lù xuất hiện. Trên điều mình đi tập huấn cho công việc mà nếu thiếu thì người khác thay rất khó. Chuẩn bị sẵn sàng cho việc dẫn đường ra đánh chiếm các đảo nay mai. Khi mà cuộc tổng tiến công mở ra. Mình nói lại chuyện này cùng Thơm. Em khóc.

- Em mà không chịu, anh xin ở lại!

- Nhưng mà, anh cần cho việc lớn kia mà!

- Em nói thiệt đi, em đã có gì chưa?

- Đừng ngại mà anh! Nếu có gì em chịu được...Anh đi đi...Sự nghiệp cần anh, đồng đội ngoài đảo xa cũng đang chờ anh! Thơm nói, nhưng nước mắt lại thấm ướt lưng áo của mình.

Cái đêm tàu đến đón mình lên đường thật là buồn. Thơm dúi vào tay mình một gói đồ. Chắc trong đó là những thứ nhậu được. Thuốc lá cây mà em hái ở kinh rạch. Con tàu lao ra phía Hòn Khoai. Đất Mũi chỉ còn nhỏ nhoi như cai mũi con dao nhọn.

Đức thở dốc như người sắp đứt hơi.

- Rồi không gặp được Thơm nữa sao? Tâm hỏi.

- Thì giải phóng... làm sao quay về được Đất Mũi! Đức rầu ràu trả lời.

- Không thư từ gì sao? Khang hỏi, giọng buồn ràu.

- Mình viết thư, nhiều lắm. Nhưng không có hồi âm. Trạm phẩu giã chiến ấy, chắc giải tán rồi nên không ai trả lời... Mình thật tệ. Sao lúc sống gần Thơm không hỏi địa chỉ quê  hương em ở đâu.

Đức đẩy củi vào cho lửa cháy bùng lên. Mặt choắt lại đầy đau khổ. Giọng hụt hơi:

- Trong gói đồ em dúi vội vào tay mình. Có lá thơ em viết. Mãi sau này mình mới bóc ra xem. Thơm nói em có bầu. Mai ngày Thống nhứt, anh quay lại cùng mẹ con em.

                                                                  Cửa Hữu,12/ 4/ 03

Ngày giỗ Anh

nguyentinh | 16 August, 2011 17:35

    Tháng bảy năm ấy

    chưa nặng nề như sau này

    Mỗi dịp đến lo đốt vàng mã, mong xóa tội vong nhân

 

    Chiến tranh mới vừa ngừng, Mỹ ném bom hạn chế

    Đơn vị lo, đám cưới cho một người

    quan trọng

    Ông chính trị viên đại đội Anh hùng

    Người cách mạng chẳng nghĩ gì tháng Bảy

    Cảnh chia lìa Chức nữ - Ngưu lang

    Anh Tâm Thành đạp xe lên trận địa

    Báo tin : Chú Lạc mất rồi...Bệnh viện Quán Lào

    Sao không xin về ngay, lại chần chừ quá thể

    Đám cưới...và đám tang ...

    Tất cả người lính đều không rời trận địa

    Không dám ra đi, một gã ươn hèn

    đến tận bây giờ

    đốt hương lên

 

    Tháng bảy...trần gian đốt vàng mã

    có nhận được nỗi buồn

    Đứa con lưu lạc, miền tây Đồng Tháp

    Anh mất nó còn ẵm ngửa

    Mẹ nghe lời người mối lái đèo bồng...

 

    Em của anh

    Không tài cán nên thơ không xa xót

    Âu là kiếp trước tu chưa thông

1 2 3 ... 38 39 40  Sau»